vanban.org

Bản án 303/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

cháu Bành H A, sinh ngày 09/07/2012 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực

tiếp nuôi dưỡng. 2.2. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh Bành Đức T cho đến khi 02 cháu PH A và H A thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? cháu Bành H A, sinh ngày 09/07/2012 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2022/HNGĐ -ST
Ngày: 22/9/2022
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Đức Minh

2. Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 201/2022/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2022/QĐXX ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1982 HKTT: Phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP Hà Nội

(Chị H có đơn xin vắng mặt) 2. Bị đơn: Anh Bành Đức T, sinh năm 1982 HKTT: Phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP Hà Nội Hiện đang chấp hành án tại trại giam

(Anh T có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Bành Đức T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội ngày 25/04/2007.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất hòa trong nhiều vấn đề dẫn đến không thể nói chuyện, chia sẻ được với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trở nên căng thẳng từ năm 2021 khi anh T bị Tòa án cấp cao tại Hà Nội xử phạt 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vợ chồng ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ năm 2021 đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn, chị xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Bành PH A, sinh ngày 16/01/2008 và cháu Bành H A, sinh ngày 09/07/2012. Khi ly hôn chị xin nuôi dưỡng cháu 2 cháu PH A và H A. Chị H không yêu cầu anh T đóng góp phí tổn nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc đóng góp phí tổn nuôi con chung.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí chị xin chịu cả án phí theo quy định của pháp luật.

*Bị đơn anh Bành Đức T trình bày:

Anh Bành Đức T và chị Nguyễn Thị Thu H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội năm 2007. Vợ chồng sinh sống với nhau có bất hoà trong nhiều vấn đề. Nguyên nhân là do vợ chồng tính cách khác nhau thường xuyên xảy ra cãi vã nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Năm 2021 anh T bị TAND cấp cao tại Hà Nội xử phạt 9 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đơn xin ly hôn anh T cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: anh T và chị H có 02 con chung là cháu Bành PH A, sinh ngày 16/01/2008 và cháu Bành Huy A, sinh ngày 09/07/2012. Khi ly hôn, anh T đồng ý để chị H nuôi dưỡng 02 cháu PH A và H A. Chị H không yêu cầu anh T đóng góp phí tổn nuôi con chung, anh T nhất trí không có ý kiến gì khác.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh T và chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tại phiên toà phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Anh T chị H có đơn xin vắng mặt, Tòa án đã làm đầy đủ trình tự theo thủ tục tố tụng.

Vì vậy, căn cứ vào: khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều: 56,81,82,83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án nhân dân quận Long Biên:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H.

- Về con chung: Giao 02 cháu Bành PH A và cháu Bành H A cho chị H nuôi

dưỡng. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh T cho

đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định: * Về tố tụng: Tòa án đã làm đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản cho bị đơn là anh Bành Đức T. Anh T và chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. * Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Bành Đức T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội ngày 25/4/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng trong cách sống. Năm 2021 anh T bị TAND cấp cao tại Hà Nội xử phạt 9 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị H xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn đối với anh T và anh T cũng đồng ý ly hôn với chị H.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh T đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai anh chị đều xác định cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, thời gian ly thân đã lâu, nên khó có khả năng hàn gắn đoàn tụ vợ chồng được. Do đó chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. * Về con chung: anh chị có 02 con chung là cháu Bành PH A, sinh ngày 16/1/2008 và cháu Bành H A, sinh ngày 09/07/2012. Khi ly hôn chị H xin nuôi dưỡng cháu 2 cháu PH A và H A. Xét thấy hiện nay anh T đang thụ án tại trại giam Suối Hai nên không có điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Xuất phát từ lợi ích của cháu PH A và H A, anh chị cũng thống nhất để chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu PH A và H A, tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung với anh T nên cần ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị về vấn đề nuôi con chung và về phần cấp dưỡng: Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh T cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.

* Về tài sản chung: Anh chị không yêu cầu Toà án xem xét nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

* Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 228 và khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Xử: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Bành Đức T 2. Về nuôi con chung: 2.1. Giao con 02 con chung là cháu Bành PH A, sinh ngày 16/01/2008 và

cháu Bành H A, sinh ngày 09/07/2012 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực

tiếp nuôi dưỡng. 2.2. Tạm hoãn việc đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với anh Bành Đức

T cho đến khi 02 cháu PH A và H A thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến

khi có yêu cầu khác theo quy định của pháp luật.

Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

3. Về tài sản chung: không yêu cầu Toà án giải quyết. 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0065204 ngày 02/8/2022 tại Chi cục thi hành án quận Long Biên. Nay chuyển thành án phí. Án xử công khai sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Bành Đức T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND Tp. Hà Nội -VKSND q. Long Biên

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà -Chi cục THADS q. Long Biên -UBND p. Thượng Thanh - Long Biên - Hà Nội.

- Các đương sự

- Lưu HS

- Lưu VP.

Đặng Mai Hoa HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ