vanban.org

Bản án 302/2025/HC-PT — Hành chính

Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội Tuyên án 26/12/2025 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ông A không phải nộp án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Viện phúc thẩm 1; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lí đất đai"
  • Tòa quyết gì? Ông A không phải nộp án phí phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 83 Luật Đất đai; Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND Ban hành quy định các nội dung…; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 302/2025/HC-PT
Ngày 26-12-2025
V/v: khởi kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lí đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tất Nam;

Các Thẩm phán: ông Trần Xuân Thảo;

ông Hoàng Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Nữ Quỳnh Trâm - Thư kí Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội: ông Nguyễn Văn Tấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 196/2025/TLPT-HC ngày 11 tháng 11 năm 2025 về khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lí đất đai, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án số 80/2025/HC-ST ngày 25-3-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6864/2025/QĐ-PT ngày 11-12-2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: ông Nguyễn Năng A sinh năm 1957; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Nguyễn Năng N sinh năm 1982; có mặt.

Đều trú tại: thôn X, xã U, thành phố Hà Nội.

2. Người bị kiện: Chủ tịch và Ủy ban nhân dân huyện U, thành phố Hà Nội (kế thừa quyền và nghĩa vụ - Chủ tịch và Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội); đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện U, thành phố Hà Nội (người kế thừa quyền, nghĩa vụ - Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội; đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Năng S và anh Nguyễn Năng N. Bà Hinh, anh S ủy quyền cho anh Nguyễn Năng N tham gia tố tụng.

Đều trú tại: thôn X, xã U, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Người khởi kiện trình bày: hộ gia đình ông được giao sử dụng 385 m2 đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP và ngày 24/06/2014 đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện U, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BU 894290 đối với thửa đất số 417, tờ bản đồ số 09, tại địa chỉ xứ đồng Mả Găng, thôn Xà Cầu, xã Quảng Phú Cầu, huyện U, thành phố Hà Nội. Thực hiện dự án: xây dựng cụm công nghiệp Xà Cầu giai đoạn 2, gia đình ông bị thu hồi toàn bộ 385 m2 đất tại thửa đất trên tại Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 của UBND huyện U. Ngày 04/10/2022, UBND huyện U ban hành Quyết định số 4047/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ kèm theo là phương án chi tiết. Theo đó hộ gia đình ông được bồi thường theo giá đất nông nghiệp là 135.000 đồng/m2, ngoài ra được hỗ trợ tìm kiếm việc làm. Tổng số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 313.005.000 đồng.

Ngày 14/6/2023, Chủ tịch UBND huyện U ban hành Quyết định số 3233/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất của gia đình ông.

Không đồng ý với việc thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất, gia đình đã khiếu nại, tuy nhiên sau đó đã rút đơn khiếu nại.

Ông cho rằng việc UBND huyện ban hành Thông báo thu hồi đất nhưng không đúng theo mẫu số 07/TB-THĐ ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 12/6/2014 của Bộ tài nguyên và môi trường, không có căn cứ cụ thể thu hồi đất theo điều nào của Luật đất đai, không nêu rõ căn cứ vào Nghị quyết nào của HĐND thành phố Hà Nội, mặt khác việc thu hồi đất chưa có sự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với người dân có đất bị thu hồi. Gia đình chưa nhận được quyết định thu hồi đất mà UBND huyện đã tổ chức cưỡng chế thu hồi đất là hành vi không đúng quy định pháp luật.

Ngày 10/07/2023, ông đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân yêu cầu tuyên hủy:

Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 4/10/2023 của UBND huyện U về việc thu hồi đất.

Quyết định số 3233/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện U về việc cưỡng chế thu hồi đất.

2. Người bị kiện trình bày: căn cứ Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của UBND thành phố Hà Nội về việc thành lập cụm công nghiệp Xà Cầu- giai đoạn 2, huyện U.

Căn cứ Quyết định số 4395/QĐ-UBND ngày 10/11/2022 của UBND thành phố Hà Nội về việc điều chỉnh Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của UBND thành phố Hà Nội về việc thành lập cụm công nghiệp Xà Cầu- giai đoạn 2, huyện U.

Văn bản số 3710/STNMT- CCQLĐĐ ngày 25/5/2021 của Sở tài nguyên và môi trường về việc hướng dẫn xác định mốc giới khu đất phục vụ công tác GPMB, bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án. Công ty cổ phần Hà Thành - BQP (chủ đầu tư thực hiện dự án) đã thuê Công ty TNHH đầu tư thương mại dịch vụ và xây dựng Đồng Tâm đo đạc lập bản đồ địa chính phục vụ công tác GPMB đã được huyện phê duyệt.

Ngày 26/5/2022, UBND huyện ban hành Quyết định số 2195/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án.

Ngày 30/6/2022, UBND huyện ban hành Quyết định số 2631/QĐ-UBND về việc thành lập Tổ công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án.

Ngày 26/7/2022, UBND huyện ban hành Thông báo số 1066/TB-UBND về việc thu hồi đất.

Ngày 28/7/2022, Phòng tài nguyên và môi trường huyện phối hợp với UBND, UBMT tổ quốc xã Q, chủ đầu tư thực hiện dự và các hộ gia đình có đất nằm trong phạm vi thu hồi đất để thực hiện dự án, tổ chức họp Thông báo kế hoạch tiến độ thu hồi đất, GPMB, các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

Tổ công tác phối hợp với hộ gia đình ông Nguyễn Năng A tổ chức đo đạc, kiểm đếm đất đai và tài sản gắn liền với đất, xác nhận của UBND xã Quảng Phú Cầu theo quy định tại khoản 3, Điều 34 Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội. Đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng đã xây dựng phương án BT, HT và tái định cư của các hộ trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A trình Hội đồng BT, HT và tái định cư họp thẩm tra phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 98 hộ gia đình trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A.

Ngày 24/9/2022, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư họp thẩm định phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của 98 hộ gia đình trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A.

Ngày 04/10/2022, UBND huyện U ban hành Quyết định số 3948/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 4047/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ kèm theo là phương án chi tiết của hộ ông Nguyễn Năng A.

Các ngày 21/4/2023, 29/5/2023, 02/6/2023, Tổ công tác cùng với UBND xã, UBMT tổ quốc xã Q tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng. Tham gia hội nghị có ông Nguyễn Năng N (con trai ông Nguyễn Năng A) và bà Nguyễn Thị H (vợ ông A) có ý kiến: nhất trí chủ trương thu hồi đất để thực hiện dự án; giá bồi thường thấp, đề nghị phải thỏa thuận giá với các hộ gia đình, chờ có bảng giá đất mới theo Nghị quyết của Đảng thì gia đình mới đồng ý thực hiện”.

Ngày 14/6/2023, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định cưỡng chế đối với 05 hộ gia đình trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A tại Quyết định số 3233/QĐ-UBND. Ngày 29/6/2023 ban cưỡng chế đã tổ chức cưỡng chế thu hồi đất theo quy định.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- UBND xã Q:

Ngày 18/8/2021, UBND xã có Giấy xác nhận nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất đối với hộ ông Nguyễn Năng A. Theo đó: chủ sử dụng đất bị thu hồi: hộ ông Nguyễn Năng A.

Vị trí: thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số 02 (BĐ GPMB) xứ đồng M thôn X, xã Q, huyện U, thành phố Hà Nội.

Diện tích thu hồi: 385 m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tổng diện tích đất được giao 2328,9 m2. Chiếm 16,53 % tổng diện tích đất được giao. Ngày 31/12/2021, UBND xã Thông báo niêm yết công khai Bản đồ phục vụ công tác GPMB, dự thảo phương án BT, HT.

UBND xã kết hợp với Tổ công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục gia đình nhận tiền bàn giao mặt bằng, ban hành Giấy mời đến hộ ông A về việc nhận tiền, nhưng ông Ất không thực hiện.

Ngày 22/6/2023, UBND xã có Báo cáo số 126/BC-UBND về kết quả giao quyết định cưỡng chế thu hồi đất đối với 05 hộ dân trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A.

Ngày 29/6/2023, UBND xã kết hợp với tổ công tác đã tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đối với hộ ông A. Ông A có mặt nhưng không ký biên bản.

- Ý kiến của các thành viên hộ gia đình ông Nguyễn Năng A, nhất trí ý kiến của ông A và ủy quyền cho anh Nguyễn Năng N để tham gia tố tụng giải quyết vụ án.

Tại Bản án số 80/2025/HCST ngày 25-3-2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã căn cứ các khoản 2, 3 Điều 3, các điều 30, 32, 157; 204 và 206 Luật tố tụng hành chính; Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật đất đai năm 2013; Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội quy định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 30/12/2029 của UBND thành phố Hà Nội về việc quy định về Bảng giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội; quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Năng Ất về yêu cầu hủy:

- Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 04/10/2023 của UBND huyện U về việc thu hồi đất.

- Quyết định số 3233/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện U về việc cưỡng chế thu hồi đất.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Năng A kháng cáo không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Người đại diện theo ủy quyền của ông A đề nghị chấp nhận kháng cáo chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông A.

Người bị kiện đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội (Viện phúc thẩm 1) có ý kiến, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông A là đúng. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tố tụng

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lí, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, bảo đảm thời hiệu khởi kiện theo quy định.

. Về nội dung

Đối với Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 4/10/2023 của UBND huyện U về việc thu hồi đất; Quyết định số 4047/QĐ-UBND ngày 4/10/2023 của UBND huyện U về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ

Về trình tự, thẩm quyền: căn cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật đất đai năm 2013; Quyết định số 383/QĐ-UBND ngày 17/01/2020 của UBND thành phố Hà Nội về việc thành lập cụm công nghiệp Xà Cầu - giai đoạn 2, huyện U; Quyết định số 208/2022/QĐ-UBND ngày 14/01/2022 của UBND thành phố Hà Nội về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2022 huyện U; Văn bản số 3710/STNMT-CCQLĐĐ ngày 25/5/2021 của Sở tài nguyên và môi trường về việc hướng dẫn xác định mốc giới khu đất phục vụ công tác GPMB; Quyết định số 10/2017/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội quy định về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; thì UBND huyện U ban hành Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 4/10/2023 về việc thu hồi đất; Quyết định số 4047/QĐ-UBND ngày 4/10/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ là đúng trình tự, đúng thẩm quyền.

Căn cứ Nghị quyết số 35/NQ-HĐND ngày 10/12/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua Danh mục các dự án thu hồi đất; dự án chuyển mục đích trồng lúa năm 2022 trên địa bàn thành phố Hà Nội thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố trong đó có: “Dự án cụm công nghiệp X - giai đoạn 2, huyện U, Hà Nội” thuộc dự án thu hồi đất theo điểm d, khoản 3 Điều 62 Luật đất đai năm 2013.

Về quy trình thu hồi đất: hộ gia đình ông Nguyễn Năng A đã được họp về chủ trương thu hồi đất, được nhận Thông báo thu hồi đất số 1066/TB-UBND ngày 26/7/2022 của UBND huyện, UBND huyện U đã lập quy trình đã vận động, thuyết phục.

Tại Biên bản điều tra, kiểm đếm ngày 02/8/2022 của Tổ công tác GPMB thể hiện thửa đất gia đình ông Nguyễn Năng A bị thu hồi để thực hiện dự án: diện tích đang sử dụng bị thu hồi là 385 m2, thuộc thửa đất số 62, tờ bản đồ số (Bản đồ GPMB) tại vị trí xứ đồng M thôn X, xã Q, huyện U, thành phố Hà Nội đã được UBND huyện U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014 cho hộ ông Nguyễn Năng A.

Tổng diện tích đất nông nghiệp hộ gia đình ông Nguyễn Năng A được giao theo NĐ 64/CP là 2328,9 m2. Diện tích đất nông nghiệp thu hồi tại dự án: 385 m2, chiếm 16,53 % trên tổng diện tích đất nông nghiệp được giao.

Như vậy UBND huyện U ban hành Quyết định số 3948/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 về việc thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Nguyễn Năng A là đúng quy định của pháp luật.

Về chính sách bồi thường, hỗ trợ: theo Quyết định số 4047/QĐ-UBND ngày 04/10/2023 của UBND huyện U về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, cụ thể: diện tích đất bị thu hồi: 385 m2 là đất nông nghiệp được giao theo nghị định 64/CP đã được UBND huyện U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014.

Bồi thường về đất: căn cứ Điều 77 Luật đất đai, Điều 4 Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Điều 5 Quyết định số 10/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND thành phố quy định về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất.

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất nông nghiệp cụ thể.

Về giá đất nông nghiệp cụ thể: giá đất nông nghiệp được sử dụng làm cơ sở xác định giá đất trong tính tiền bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo Quyết định số 30/QĐ - UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố Hà Nội quy định về bảng giá các loại đất trên địa bàn thành phố Hà Nội; cụ thể: giá đất nông nghiệp trồng lúa nước huyện U: 135.000 đồng/ m2.

Theo đó: 385 m2 x 135.000 đồng/m2 x 100% = 51.975.000 đồng.

Hỗ trợ khác:

- Hỗ trợ ổn định đời sống: căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 83 Luật đất đai, Điều 19 Nghị định 47/NĐ-CP, Điều 21 Quyết định số 10/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội: bị thu hồi 30% diện tích đang sử dụng trở lên thì được hỗ trợ 12 tháng, đơn giá 15. 200 đồng/kg x số nhân khẩu x 30 kg gạo.

Theo đó hộ ông Nguyễn Năng A tỉ lệ mất đất là 16,53 % trên tổng số diện tích được giao thì không được hỗ trợ khoản này là đúng (tỉ lệ mất đất từ 30% trở lên thì mới được hỗ trợ ổn định đời sống).

- Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm: căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 83 Luật đất đai, Điều 22 Quyết định số 10/QĐ-UBND, mức hỗ trợ bằng 5 lần giá đất nông nghiệp. Theo đó: 385 m2 x (135.0000 đồng x 5 lần) = 259.875.000 đồng.

- Thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng: 3.000 đồng/m2 (theo khoản 4 Điều 24 Quyết định số 10/QĐ-UBND): 385 x 3.000 = 1.155.000 đồng.

Tổng cộng số tiền được bồi thường, hỗ trợ: 313.005.000 đồng.

Như vậy UBND huyện U ban hành Quyết định số 4047/QĐ-UBND ngày 04/10/2022 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ gia đình ông Nguyễn Năng A là đúng quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Năng A cho rằng UBND huyện U ban hành Thông báo thu hồi đất chưa đúng mẫu quy định, việc bồi thường phải có sự thỏa thuận với người bị thu hồi đất là không có căn cứ.

Đối với Quyết định số 3233/QĐ-UBND ngày 14/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện U về việc cưỡng chế thu hồi đất

Do hộ gia đình ông Nguyễn Năng A không đồng ý nhận tiền bồi thường, không bàn giao mặt bằng.

Các ngày 21/4/2023, 29/5/2023, 02/6/2023, Tổ công tác cùng với UBND xã, UBMT tổ quốc xã Q tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng. Tham gia hội nghị có ông Nguyễn Năng N (con trai ông Nguyễn Năng A) và bà Nguyễn Thị H (vợ ông A). Tuy nhiên gia đình không nhận tiền và cũng không bàn giao mặt bằng.

Do đó UBND huyện U đã lập quy trình để cưỡng chế thu hồi đất theo quy định.

Ngày 14/6/2023, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 3233/QĐ-UBND về việc cưỡng chế đối với 05 hộ gia đình trong đó có hộ ông Nguyễn Năng A là đúng quy định tại Điều 71 Luật đất đai.

Ngày 22/6/2023, Chủ tịch UBND huyện U ban hành Quyết định số 3380/QĐ-UBND ngày 22/6/2023 về thành lập ban cưỡng chế.

Ngày 26/3/2023 Chủ tịch UBND huyện U ban hành Kế hoạch số 103/KH-BCC về cưỡng chế.

Ngày 29/6/2023 Ban cưỡng chế đã tổ chức cưỡng chế thu hồi đất theo đúng quy định. Tại buổi cưỡng chế ông Nguyễn Năng A cũng có mặt nhưng không ký biên bản.

Như vậy quy trình cưỡng chế để thực hiện quyết định thu hồi đất của Chủ tịch UBND huyện U đối với hộ gia đình ông Nguyễn Năng A là đúng.

Ông A cho rằng gia đình chưa nhận được quyết định thu hồi đất là không đúng. Bởi lẽ tại Biên bản ngày 27/6/2023, tại buổi tuyên truyền vận động các hộ dân đã thể hiện gia đình ông A đã được giao quyết định thu hồi đất nhưng không nhận.

Với các lí do trên xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông A là đúng. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông A.

. Ông A là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên không phải nộp án phí phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bác kháng cáo của ông Nguyễn Năng A và giữ nguyên quyết định của Bản án số 80/2025/HCST ngày 25-3-2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

2. Ông A không phải nộp án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ