vanban.org

Bản án 302/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 14/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án. Về trách nhiệm hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Tươi - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 302/2023/HSST
Ngày: 14- 9- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 n m 2023, T a án nhân dân thành phố Dĩ An,tỉnh Bình Dƣơng công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 295/2023/HSST ngày 18 tháng 8 n m 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 427/2023/QĐXXST-HS ngày 05/9/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê V n T, sinh n m 1989, tại tỉnh A; nơi ĐKNKTT: Ấp C, xã C, huyện Ch, tỉnh A; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: H a hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê V n M, sinh n m 1950 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh n m 1948; bị cáo có 08 anh, chị, em ruột (lớn nhất sinh n m 1974, nhỏ nhất là bị cáo); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Anh Danh Vũ L, sinh n m 1996; nơi ĐKHKTT: Ấp Th, xã Th, huyện G, tỉnh K; trú tại: khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Có mặt tại phiên t a.

- Người làm chứng:

+ Chao Kim H, sinh n m 1985; vắng mặt;

+ Chao Kim H, sinh n m 1994; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lê V n T và chị Chao Kim H sống với nhau nhƣ vợ chồng từ n m 2019. T và H thuê đất trồng rau muống để bán tại đƣờng Bùi Thị Xuân, khu phố Tân Phú 2, phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và tạm trú trong 01 ch i tạm tại đây.

Chao Kim H là em gái của chị H và Danh Vũ L là chồng của H cũng làm nghề trồng rau và sống gần chỗ của H và T.

Khoảng 17 giờ ngày 24/5/2023, Lê V n T và Chao Thị H xảy ra mâu thuẫn với nhau, H đ i lấy lại đất đã thuê và không cho T làm rau muống chung nữa. T lấy dao hù dọa H và dùng tay đánh vào vai của H (không gây thƣơng tích) thì Hiếu la lên để Chao Kim H và Danh Vũ L đến bênh vực. Chao Kim H nghe tiếng kêu chạy sang ch i của H và T, H nói “anh chửi chị tôi sao cũng đƣợc, anh đánh chị tôi là không yên với tôi đâu”. Cùng lúc này, Danh Vũ L đang chích cá gần đó nghe thấy tiếng kêu cứu nên đi vào chỗ của T và H, Lcầm cây kích điện hù dọa chích điện T. Thấy vậy, chị H kéo anh L ra ngoài, anh L bỏ đi. Khoảng 02 giờ 00 ngày 25/5/2023, chị H, chị H và anh L đang hái rau, chị H kêu anh L đi mua cà phê về uống, anh L vào ch i lấy xe môtô để đi mua cà phê. Lúc này, T thức dậy chuẩn bị đi làm nhìn thấy anh L. T nhớ lại chuyện chiều qua nên bực tức, T liền đi vào ch i lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 50 cm, đứng trƣớc đầu xe anh L rồi chém 01 cái nhƣng không trúng. T tiếp tục xông vào chém vào đấu gối phải của anh L một cái, anh Linh bỏ chạy thì T cầm dao tiếp tục đuổi theo anh L, T đuổi đƣợc khoảng 30 mét thì anh L bị trƣợt ngã, T dùng dao chém về phía anh L, anh L quay lại đỡ thì bị T chém trúng vào tay trái, tay phải và ngực phải gây thƣơng tích. Sau khi chém anh L, T điều khiển xe môtô về quê tại tỉnh An Giang. Ngày 25/5/2023, Lê V n T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đầu thú hành vi phạm tội. Sau đó, vụ việc đƣợc chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An điều tra theo thẩm quyền. Đối với con dao gây án, Lê V n T vứt bỏ trên đƣờng đi từ tỉnh Bình Dƣơng về tỉnh An Giang, không xác định đƣợc địa điểm nên không thu hồi.

Còn anh L đƣợc ngƣời nhà đƣa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 25/5/2023, chị H (vợ anh L) có đơn yêu cầu giám định thƣơng tích và xử lý hình sự đối với Lê V n T.

Theo Giấy chứng nhận thƣơng tích số 118/CN ngày 29/5/2023 của Bệnh viện thành phố Thủ Đức, xác định thƣơng tích của anh Danh Vũ L, nhƣ sau:

- Tình trạng thƣơng tích lúc vào viện:

+ Vết thƣơng mất ngón 2 bàn tay phải khoảng 06 cm đang chảy máu.

+ Vết thƣơng ngón 3 tay phải khoảng 01 cm, bờ gọn, đang chảy máu.

+ Vết thƣơng ngón 3 bàn tay trái 05 cm đang chảy máu.

+ Vết thƣơng thành ngực phải bờ gọn 02 cm đang chảy máu.

+ Trầy xƣớc vùng trên cẳng tay trái, sƣng đau.

+ Vết thƣơng gối bờ gọn đang chảy máu.

- Chẩn đoán sau mổ:

+ Gãy hở xƣơng bàn 2,3 tay phải.

+ Đứt gân gấp nông sâu ngón 2 tay phải.

+ Vết thƣơng đầu ngón 3 tay trái.

+ Vết thƣơng thấu khớp gối phải.

Kết luận giám định tổn thƣơng cơ thể trên ngƣời sống số 334/2023/KLGĐ- TTPY ngày 02/6/2023 của Trung tâm giám định pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Tỷ lệ phần tr m tổn thƣơng cơ thể của: Danh Vũ Linh tại thời điểm giám định (áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi tại Thông tƣ 22/2019 ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế) là: 16%.

Tang vật thu giữ: Không.

Đối với hành vi dùng bình điện chích cá của anh Danh Vũ L, đề nghị Công an phƣờng Tân Bình, thành phố Dĩ An tiến hành lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Danh Vũ L yêu cầu Lê V n T bồi thƣờng tổng số tiền là 151.153.000 đồng (Một tr m n m mốt triệu, một tr m n m mƣơi ba nghìn đồng), bao gồm: tiền chi phí điều trị thƣơng tích 14.553.000 đồng, tiền n của chị H và anh L khi anh L nằm viện 05 ngày là 900.000 đồng, tiền thu nhập bị mất của anh L và chị H trong thời gian 03 tháng là 34.200.000 đồng (mỗi ngày 380.000 đồng), tiền x ng xe đi lại khám và điều trị là 1.500.000 đồng, tiền bồi thƣờng tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng. Lê V n T chƣa bồi thƣờng cho bị hại Danh Vũ L.

Theo bản Cáo trạng số 306/CT- VKS-DA ngày 17/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố bị cáo Lê V n T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự n m 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017 xử phạt bị cáo Lê V n T mức hình phạt từ 02 n m 03 tháng đến 02 n m 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên t a bị hại Danh Vũ L giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi thƣờng 151.153.000 đồng (một tr m n m mốt triệu, một tr m n m mƣơi ba nghìn đồng).

Bị cáo Lê V n T không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên t a bị cáo Lê V n T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 02 giờ 00 ngày 25/5/2023, do bực tức với Danh Vũ L ngày hôm trƣớc hù dọa trích điện nên Lê V n T cầm dao tự chế dài khoảng 50cm chém vào đấu gối phải của anh Danh Vũ L một cái, anh Linh bỏ chạy thì T cầm dao tiếp tục đuổi theo anh L khoảng 30 mét thì anh L bị trƣợt ngã, Tƣơi dùng dao chém về phía anh L, anh L quay lại đỡ thì bị T chém trúng vào tay trái, tay phải và ngực phải gây thƣơng tích. Theo kết luận giám định tỷ lệ thƣơng tích của anh L là 16%.

Hành vi của dùng dao tự chế gây thƣơng tích cho bị hại với tỷ lệ thƣơng tích 16% của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” đƣợc quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

Mức độ, hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nguyên nhân, động cơ phạm tội và đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp.

Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung n m 2017.

Tại phiên t a đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có c n cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Không thu giữ đƣợc vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Danh Vũ L yêu cầu Lê V n T bồi thƣờng tổng số tiền là 151.153.000 đồng (một tr m n m mốt triệu, một tr m n m mƣơi ba nghìn đồng), bao gồm: tiền chi phí điều trị thƣơng tích 14.553.000 đồng, tiền n của chị H và anh L khi anh L nằm viện 05 ngày là 900.000 đồng, tiền thu nhập bị mất của anh L và chị H trong thời gian 03 tháng là 34.200.000đồng (mỗi ngày 380.000 đồng), tiền x ng xe đi lại khám điều trị vết thƣơng là 1.500.000đồng, tiền bồi thƣờng tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng. Xét thấy, đối với khoản tiền điều trị thƣơng tích có hoá đơn, chi phí n uống, đi lại trong thời gian điều trị thƣơng tích là hợp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với số tiền 34.200.000đ tiền mất thu nhập trong thời gian 03 tháng của anh L, chị H và 100.000.000đ bồi thƣờng về tổn thất tinh thần bị hại đƣa ra chƣa phù hợp với quy định của pháp luật nên cần phải xem xét. Xét thấy, ngày 25/5/2023 bị hại bị thƣơng tích, ngày 02/6/2023 bị hại đi giám định thƣơng tích và theo kết luận tại thời điểm khám giám định vết thƣơng của bị hại sẹo lành, cổ bàn tay c n hạn chế vận động. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận buộc bị cáo bồi thƣờng 02 tháng mất thu nhập của bị hại tƣơng đƣơng với 22.800.000đ. Đối với tiền bồi thƣờng tổn thất về tinh thần theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự quy định “mức bồi thƣờng bù đắp về tổn thất tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận đƣợc thì mức tối đa cho một ngƣời có sức khỏe bị xâm phạm không quá n m mƣơi lần mức lƣơng cơ sở do Nhà nƣớc quy định”. Trong vụ án này, bị hại bị thƣơng tích tỷ lệ 16%, theo hƣớng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán T a án nhân dân tối cao thì có c n cứ để Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại là 08 tháng lƣơng cơ sở, tại thời điểm hiện tại lƣơng cơ sở là 1.800.000đ, do đó mức bồi thƣờng tƣơng đƣơng số tiền 14.400.000 đồng (1.800.000đ x 8 tháng). Nhƣ vậy, tổng số tiền buộc bị cáo bồi thƣờng cho bị hại là 54.153.000đ. Tại phiên t a, bị hại và bị cáo đồng ý mức bồi thƣờng nhƣ Hội đồng xét xử đã đƣa ra.

Về án phí : Bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ :

- Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung n m 2017.

- Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật dân sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê V n T phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê V n T 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Lê V n T bồi thƣờng cho bị hại Danh Vũ L 54.153.000đ (n m mƣơi bốn triệu, một tr m n m mƣơi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chƣa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì hàng tháng c n phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự tƣơng ứng với số tiền và thời gian chƣa thi hành án.

3. Về án phí:

Bị cáo Lê V n T phải nộp 200.000đ (hai tr m nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.707.650đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ