- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 302/2022/HS-ST Ngày 20 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Vũ Vương
Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 289/2022/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn K, sinh năm 2003 tại thành phố Hà Nội; đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm .., xã X huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguễn Văn T và bà: Phan Thị L; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Không; Danh chỉ bản số: 363 ngày 30/9/2022 của Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/9/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Phạm Bá T, sinh năm 1961; đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Số ... Tổ ... L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h00 ngày 17/9/2022, Nguyễn Văn K, sinh năm: 2003; đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm …, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định đi bộ từ số 6 ngách 121/3/10 phố K, phường T, quận H, TP. Hà Nội ra đầu ngõ 121 phố K, quận H, TP. Hà Nội để mua đồ ăn. Lúc K đi đến khu vực đầu ngõ 121 phố K thì nhìn thấy có 01 chiếc xe máy BKS: 29D2 - 086.12, màu sơn đen- xanh của ông Phạm Bá T, sinh năm: 1961; trú tại: Số … tổ … L, phường T, quận H, TP. Hà Nội đang dựng sát tường nhà đầu ngõ 121 phố K, phường T, quận H, TP. Hà Nội, đầu xe hướng phía ngoài đường K, đuôi xe hướng vào ngõ. K nhìn thấy chìa khóa xe máy vẫn cắm ở ổ khóa điện. Thời điểm đó do không có phương tiện đi lại nên K nảy lòng tham. Nhìn xung quanh không có ai trông giữ nên K tiến lại gần ngồi lên xe máy và nổ máy, sau đó đi về nơi ở tại số 6 ngách 121/3/10 phố K, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội để cất giấu. Đến ngày 22/9/2022 K bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện, tại chỗ K khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân. Tổ công tác đã tiến hành đưa K cùng vật chứng về trụ sở để làm rõ. Tại trụ sở cơ quan Công an, Nguyễn Văn K khai nhận hành vi phạm tội như trên. Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 164 ngày 11/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Elegant, màu xanh đen, biển kiểm soát 29D2-086.12, số khung: 10THHH002313, số máy: MSDBHH002313, xe đăng ký lần đầu tháng 6/2017, đã qua sử dụng trị giá 6.000.000đồng. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Elegant, màu xanh đen, biển kiểm soát 29D2-086.12, số khung: 10THHH002313, số máy: MSDBHH002313, theo kết luận giám định số 7397/KL-KTHS ngày 27/10/2022 của Phòng PC09- CATP Hà Nội xác định là số nguyên thủy, chủ sở hữu tài sản là Phạm Bá T. Ngày 14/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hai Bà Trưng đã Quyết định xử lý trả lại tài sản cho ông T.
Bản cáo trạng số 276/CT/VKSHBT ngày 23/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung đã nêu trên là đúng; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 12 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Bị cáo không tranh luận, sau đó nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 17/09/2022, tại khu vực đầu ngõ 121 phố K, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Bị cáo Nguyễn Văn K đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Elegant màu xanh đen, biển kiểm soát 29D2 -086.12 trị giá 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) của ông Phạm Bá T. Do đó đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Chính vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; do vậy có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K: 07( Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 23/9/2022.
Căn cứ vào Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hai Bà Trưng. - VKSND TP. Hà Nội - Công an Q. Hai Bà Trưng. - Bị cáo. - Lưu./. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Tiến |