vanban.org

Bản án 302/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 10/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, sửa phần hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1 phạm tội “Giết người”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Q và đồng phạm - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, sửa phần hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2022 /HS-PT
Ngày: 10/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Trường.

Các thẩm phán: - Ông Phạm Việt Cường

- Ông Phạm Tồn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quang Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 277/2022/TLPT-HS ngày 05 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Minh Q và đồng phạm về tội “Giết người”. Do bản án hình sự sơ thẩm số 20/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng nghị.

* Bị cáo bị kháng nghị:

1. Nguyễn Minh Q, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2005, tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: khối phố X, phường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1972 và bà Võ Thị Th, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2020, chuyển sang tạm giam ngày 10/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

2. Huỳnh Phước L, sinh ngày 14 tháng 4 năm 2000 tại huyện P1, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn A, xã T1, huyện P1, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh M, sinh năm 1973 và bà Cao Thị Kim C, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2020, chuyển sang tạm giam ngày 10/12/2020, đến ngày 26/3/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “tạm giam” sang “bảo lĩnh”. Đến ngày 07/10/2021, bị bắt tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

3. Nguyễn Q1 (tên gọi khác: Quậy) sinh ngày 10 tháng 3 năm 1993 tại huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn NT, xã T2, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: khối phố Xuân Đông, phường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Thợ sơn xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị O (mẹ đơn thân); vợ là Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2020, chuyển sang tạm giam ngày 10/12/2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Q: ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1972 và bà Võ Thị Th, sinh năm 1978; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: khối phố X, phường T1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Những người bào chữa cho các bị cáo:

1. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Q: Bà Nguyễn Thị Hồng Ph

- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Nam, bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

2. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Q1: Luật sư Trương Ngọc Tr – Văn phòng Luật sư Nguyễn Sơn, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Nam, bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Địa chỉ: thành phố T. Có mặt.

3. Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phước L: Luật sư Nguyễn Thị Tuyết S1 - Công ty Luật TA, bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Địa chỉ: thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có đơn vắng mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Anh T3, người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/12/2020, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Q1, Nguyễn Minh Đ1 và Lê Anh L1 đến quán nhậu AD tại địa chỉ 202 Đường L2 thuộc khối phố M2, phường AM, thành phố T, tỉnh Quảng Nam để nhậu. Tại đây, L1 gọi điện cho Huỳnh Phước L điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu xanh đen, biển kiểm soát 92L1-277.42 đến nhậu, sau đó L1 mượn xe của L chở chị Mai Thị Mỹ Q2 đến ngồi chơi cùng. Cùng lúc đó, có nhóm của anh Đinh Quang M1, Đoàn Minh L3 và Nguyễn Văn H2 nhậu tại bàn bên cạnh nhóm của Q, Q1, L, T3, Đ1, L1.

Đến 21 giờ cùng ngày, nhóm bàn nhậu của Q, Q1, L, T3, Đ1, L1 thanh toán tiền, T3 đi ra trước quán thì Đoàn Minh L3 đi theo ra phía trước gặp T3 và hỏi: “Có phải mi hồi chiều chạy xe nẹt pô trên đường Huỳnh Thúc Kháng không?”, T3 trả lời: “Không phải”. Lúc đó anh M1 đi đến và có lời qua tiếng lại với T3, anh M1 dùng tay đấm 02 (hai) cái vào mặt T3, T3 dùng tay đánh lại và T3 bị ngã xuống vỉa hè trước quán. Thấy vậy, Q, Q1 và L liền xông đến đánh anh M1. Q dùng tay trái nhặt lấy vỏ chai rượu bằng thủy tinh tại gốc cây phía trước quán nhậu rồi tiến đến đứng đối diện với anh M1, dùng tay trái cầm vỏ chai đánh thẳng từ trên xuống vào đầu của anh M1 01 (một) cái làm vỏ chai bị vỡ. Q1 thì cầm mũ bảo hiểm xông vào đánh vào đầu anh M1 02 cái, L cầm chai thủy tinh đánh trúng lưng của anh M1, Q tiếp tục nhặt lấy vỏ chai thủy tinh khác đánh 01 (một) cái nữa từ trên xuống vào đầu anh M1 làm anh M1 ngã ngồi xuống đất. Anh M1 đưa hai tay lên ôm đầu thì Q chuyển phần vỏ chai vỡ còn lại (khoảng 15cm, có đầu sắc cạnh) từ tay trái sang tay phải, hơi cúi người đứng phía sau lưng anh M1, đâm ngang liên tiếp 03 (ba) cái theo hướng từ phải sang trái trúng vào lưng, hông ngực bên phải của anh M1. Lúc này, L tiếp tục dùng 01 (một) mũ bảo hiểm đang để trên yên xe mô tô gần đó ném vào người anh M1. T3 thấy anh M1 đang ngồi ôm đầu, liền xông đến dùng tay phải đánh vào mặt anh M1 01 (một) cái, rồi đưa gối phải lên đánh trúng vào vai trái của anh M1. Trong lúc bị Q, Q1, L, T3 đánh thì anh M1 có dùng tay để đỡ và ôm đầu nhưng vẫn bị Q, Q1, L và T3 đánh trúng vào vùng đầu, mặt, cổ, lưng, hông ngực, tay gây thương tích.

Sau khi thấy anh M1 bị thương, nhóm của Q không đánh anh M1 nữa. Lúc này, anh M1 được một người thanh niên đưa vào phía trong quán. Nhóm của Q đi vào trong quán thì gặp L3 (L3 mặc áo khoác màu đỏ). Q1 dùng tay tát 01 (một) cái vào mặt L3, L1 thì cầm vỏ chai thủy tinh đánh vào L3 01 (một) cái, Đ1 dùng ghế nhựa của quán đánh 01 (một) cái vào lưng của L3. Q tiếp tục chạy vào khu vực bếp cầm con dao, L cầm vỏ chai thủy tinh xông vào chỗ L3 thì được mọi người can ngăn. Sau đó, nhóm Q, T3, Q1, Đ1, L, L1 đi về. Sau khi nhóm của Q rời đi, anh M1 được một nam thanh niên điều khiển xe mô tô chở anh M1 về nhà tại Khối phố 5, phường An Sơn, thành phố T, tỉnh Quảng Nam để anh M1 lau chùi vết máu và thay quần áo, sau đó anh M1 đến lại quán nhậu AD để tìm xe máy của mình. Khi đến quán nhậu AD, anh M1 nói chuyện với mọi người trong quán khoảng 10 phút thì được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam để cấp cứu, điều trị, đến ngày 10/12/2020 thì xuất viện.

* Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ: 01 (một) vỏ nón bảo hiểm bằng nhựa, màu đen đã bị vỡ; 01 (một) lõi xốp của mũ bảo hiểm, màu trắng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám, kiểu dáng mũ thể thao và các mảnh thủy tinh vỡ không màu, có kích thước khác nhau (để lại ở hiện trường)

* Tại Bản giám định thương tích số 454/GĐTT.20 ngày 08/12/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam kết luận thương tích của anh Đinh Quang M1 là 46%, đề nghị sau khi ra viện 30 ngày đến giám định bổ sung lần 2 để đánh giá lại vết thương vùng ngực phải và tình trạng hô hấp. Tại Bản giám định bổ sung thương tích số 48/GĐTT.20 ngày 23/02/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam mô tả và kết luận thương tích của anh Đinh Quang M1 như sau:

- Thương tích chi tiết

+ Vùng đỉnh có vết rách da nông đã lành để lại sẹo lồi dài 2cm, rộng 0,3 cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Vùng trán chếch về bên trái, sát đường chân tóc có vết xát da đã lành sẹo dài 2cm, rộng 0,1cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Dấu thâm tím tụ máu dưới da vùng trán trái đã lành. Vết thương do vật tày tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau. Dấu thâm tím, tụ máu dưới da đã điều trị khỏi nên chúng tôi không xếp tỉ lệ thương tích;

+ Vùng chẩm phải có vết rách da đã lành để lại sẹo lồi dài 1cm, rộng 0,3 cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Vùng hạ chẩm phải có ba vết rách da, cơ và vết mổ đã lành để lại sẹo lồi, vết phía trong dài 5cm, rộng 0,3cm. Tỉ lệ thương tích 03%; vết phía trên ngoài dài 3,5cm, rộng 0,3cm. Tỉ lệ thương tích 02%; vết phía dưới ngoài dài 5cm, rộng 0,3 cm. Tỉ lệ thương tích 03%. Các vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái;

+ Vùng cổ phía sau, trên nền đốt sống cổ C6 có vết rách da đã lành sẹo dài 0,5 cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Vùng mặt bên phải có vết rách da nông và rách da đã lành sẹo dài 4,5 cm, rộng 0,1 cm (vết rách da dài 2cm). Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 02%;

+ Vùng góc hàm bên phải có vết rách lóc mất da đã lành để lại sẹo lồi dài 3cm, chỗ rộng nhất 0,7 cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 02%;

+ Vùng mặt bên phải, sát trên ngành ngang xương hàm dưới có vết xát da đã lành sẹo tốt dài 2cm, rộng 0,3cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Trên vai trái có vết rách da đã lành để lại sẹo lồi dài 4cm, chỗ rộng nhất 1cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ trên xuống dưới. Tỉ lệ thương tích 02%;

+ Vùng lưng và xương bả vai hai bên có nhiều vết xát da, rách da nông và rách lóc mất da đã lành sẹo trên diện dài 22cm, rộng 11cm, vết rách da cơ lớn nhất nằm trên nền đốt sống D4, D5 dài 2,5cm, rộng 0,2 cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Các vết thương có nhiều chiều hướng khác nhau, chủ yếu từ sau ra trước. Tỉ lệ thương tích 07%;

+ Vùng lưng, tương ứng cung sau bên xương sườn IX, X bên trái có vết xát da đã lành sẹo dài 4,5cm, rộng 0,3cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ sau trước, từ trái sang phải. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Vùng ngực bên phải, tương ứng cung trước và cung bên khoang gian sườn VII, VIII có vết rách da, cơ và vết mổ đã lành để lại sẹo lồi dài 6cm, rộng 0,3cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, hơi chếch từ trên xuống dưới, từ phải sang trái (chảy máu động mạch gian sườn, rách cơ hoành khoảng 1 cm). Tỉ lệ thương tích 25%; tiếp đầu ngoài vết rách da này xuống vùng hông phải có 2 vết rách da, xát da hình vòng cung song song và cách nhau 1,5mm dài 7cm, rộng 0,2cm (vết rách da đã khâu dài 1,5 cm). Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng chếch từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Vùng ngực phải ngang khoang liên sườn VII, VIII trên đường nách sau bên phải có vết mổ dẫn lưu đã lành sẹo dài 1,5cm, rộng 0,2cm;

+ Vùng ngực bên phải, tương ứng cung bên khoang gian sườn IX, X có vết rách da, cơ đã lành sẹo hình vòng cung dài 5cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật sắc cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, chếch từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Tỉ lệ thương tích 03%. Tiếp phía sau vết rách da, cơ này có vết mổ dẫn lưu đã lành sẹo dài 1,7cm, rộng 0,3cm;

+ Mặt sau khuỷu tay trái có vết rách da, cơ và vết mổ đã lành sẹo dài 2cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật tày có cạnh sắc tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước. Tỉ lệ thương tích 01%; cách dưới vết rách da này 2cm, có vết xát da dài 2cm, rộng 1,5cm. Vết thương do vật tày tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước. Tỉ lệ thương tích 01%. Vận động gấp, duỗi khớp khuỷu được bình thường;

+ Mặt trước ngoài đoạn 1/3 dưới cẳng tay trái có vết xát da đã lành sẹo dài 1cm, rộng 0,1cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng trước ra sau, từ trái sang phải. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Mặt trước trong cổ tay trái có vết xát da đã lành sẹo dài 1cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Trên nền mô cái bàn tay trái có vết xát da đã lành sẹo dài 0,7cm, rộng 0,2cm. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau. Tỉ lệ thương tích 01%;

+ Mặt sau đoạn 1/3 trên và giữa cẳng tay phải có vết xát da không liên tục đã lành sẹo dài 6cm, chỗ rộng nhất 2,2cm. Vết thương do vật tày có diện giới hạn tác động gây nên. Hướng từ sau ra trước. Tỉ lệ thương tích 02%.

- Kết luận giám định

Tổn thương chủ yếu hiện tại còn thấy được ở trên bệnh nhân là các vết rách da, cơ, xát da và vết mổ như đã nêu ở trên;

Vết thương vùng ngực phải ngang khoang gian sườn VII, VIII thông vào khoang màng phổi giữa hai xương sườn VII, VIII gây chảy máu động mạch gian sườn, rách cơ hoành khoảng 1cm đã được phẩu thuật khâu cơ hoành, cầm máu động mạch gian sườn bằng dao điện ổn định.

Không tổn thương xương.

Không thấy dấu hiệu thần kinh khu trú.

Hiện tại bệnh nhân còn đau nhẹ vùng ngực bên phải, không khó thở, rì rào phế nang nghe rõ ở hai bên phế trường.

Tỉ lệ thương tích cộng dật lùi tại thời điểm hiện tại là 49% (bốn mươi chín phần trăm).

* Tại Công văn số 151/GĐPY ngày 30/8/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam về việc xác định vùng trọng yếu và giải thích mức độ nguy hiểm của thương tích trên bệnh nhân Đinh Quang M1:

Vùng đỉnh đầu, vùng trán, vùng chẩm và vùng ngực là các vùng trọng yếu trên cơ thể. Tuy nhiên trong trường hợp này các vết thương phần mềm ở vùng đỉnh đầu, vùng trán, vùng chẩm,... chỉ gây rách da, cơ, xát da đơn thuần nên không nguy hiểm đến tính mạng; riêng vết thương ở vùng ngực bên phải tương ứng cung trước và cung bên khoang gian sườn VII, VIII có vết rách da, cơ và vết mổ đã lành để lại sẹo lồi dài 6cm, rộng 0,3cm (gây chảy máu động mạch gian sườn, rách cơ hoành khoảng 1cm) đã được cấp cứu phẩu thuật cầm máu, khâu cơ hoành, dẫn lưu và điều trị ổn định, nên không gây nguy hiểm chết người. Nếu không cấp cứu điều trị kịp thời cũng khó dẫn đết chết người mà kéo dài thêm thời gian điều trị.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 25/5/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1 phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102; Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2020.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước L 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/10/2021. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tam giam từ ngày 07/12/2020 đến ngày 26/3/2021.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Q1 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2020.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Anh T3, quyết định về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng và công bố quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam kháng nghị một phần bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị cấp phúc thẩm tăng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L và Nguyễn Q1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Đà Nẵng giữ nguyên Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L và Nguyễn Q1; bởi lẽ việc áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1 là quá nhẹ; không đúng với tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, vì bị cáo Q là người thực hiện hành vi tích cực nhất, manh động nhất và gây ra các thương tích nặng nhất trên cơ thể của bị hại, quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thừa nhận về hành vi phạm tội, cụ thể: “khi thấy anh M1 dùng tay đấm 02 (hai) cái vào mặt T3, T3 dùng tay đánh lại và T3 bị ngã xuống vỉa hè trước quán... Q dùng tay trái nhặt lấy vỏ chai rượu bằng thủy tinh tại gốc cây phía trước quán nhậu rồi tiến đến đứng đối diện với anh M1, dùng tay trái cầm vỏ chai đánh thẳng từ trên xuống vào đầu của anh M1 01 (một) cái làm vỏ chai bị vỡ..., Q tiếp tục nhặt lấy vỏ chai thủy tinh khác đánh 01 (một) cái tiếp từ trên xuống vào đầu anh M1 làm anh M1 ngã ngồi xuống đất. Anh M1 đưa hai tay lên ôm đầu thì Q chuyển phần vỏ chai vỡ còn lại (khoảng 15cm, có đầu sắc cạnh) từ tay trái sang tay phải, hơi cúi người đứng phía sau lưng anh M1, đâm ngang liên tiếp 03 (ba) cái theo hướng từ phải sang trải trúng vào lưng, hông ngực bên phải của anh M1”, lời khai nhận tội này của bị cáo Q phù hợp với lời khai của các bị cáo Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo lại thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận dùng 01 (một) vỏ chai thủy tinh đánh một cái vào đầu anh M1, không thừa nhận dùng 02 (hai) vỏ chai thủy tinh khác nhau đánh nhiều cái vào đầu anh M1 như cáo trạng truy tố. Việc khai nại của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện thái độ không thành khẩn, che giấu hành vi phạm tội, nhưng HĐXX áp dụng mức hình phạt 03 năm tù là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và không bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung;

Đối với bị cáo Nguyễn Q1, Huỳnh Phước L: các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò thực hành tích cực, khi thấy bị cáo Q dùng vỏ chai thủy tinh đầu tiên đánh vào đầu anh M1 làm vỏ chai bị vỡ, lập tức các bị cáo Q1, L dùng mũ bảo hiểm, vỏ chai thủy tinh xông đến đánh vào đầu, vào lưng anh M1. Hành vi của các bị cáo trực tiếp gây thương tích cho anh M1 và tạo điều kiện để cho bị cáo Q tiếp tục dùng vỏ chai thứ hai đánh vào đầu anh M1, làm anh M1 ngã ngồi xuống đất và bị bị cáo Q dùng vỏ chai thủy tinh đã vỡ đâm vào vùng hông ngực gây thương tích nặng, nhưng HĐXX sơ thẩm áp dụng mức hình phạt 4,5 năm tù cho mỗi bị cáo là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, không công bằng so với bị cáo Nguyễn Minh Q - là người chưa thành niên phạm tội.

Luật sư Nguyễn Thị Hồng Ph bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh Q, nêu quan điểm: Bị cáo Q là người dưới 16 tuổi, khi phạm tội mới 15 tuổi 5 tháng nên nhận thức pháp luật kém, ở lứa tuổi tâm sinh lý chưa ổn định, thiếu suy nghĩ nên hạn chế về năng lực hành vi. Do vậy đề nghị HĐXX áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát; giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Q.

Luật sư Nguyễn Thị Tuyết S1 bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phước L, tuy vắng mặt, nhưng có gửi luận cứ bào chữa, nêu quan điểm: Bị cáo L xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tuổi thơ chịu nhiều thiệt thòi không được bố mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, phải nương tựa và sinh sống cùng người dì; trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật kém nên dễ dấn thân vào con đường phạm pháp; bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, bị hại có lỗi và xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư Trương Ngọc Tr bào chữa cho bị cáo Nguyễn Q1, nêu quan điểm: Thống nhất với tội danh mà cấp sơ thẩm đã kết tội đối với bị cáo Q1. Để có thể tuyên mức án 04 năm 06 tháng tù đối với bị cáo thì HĐXX sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo. Mức án của bị cáo là phù hợp với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Vì vậy đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, luật sư Nguyễn Thị Tuyết S1 bào chữa cho bị cáo Huỳnh Phước L vắng mặt; tuy nhiên bị cáo chấp nhận sự vắng mặt của luật sư và đề nghị không hoãn phiên tòa; HĐXX quyết định tiếp tục phiên tòa theo quy định và sẽ công bố bản luận cứ bào chữa của luật sư cho bị cáo L.

Xét nguyên nhân, hành vi, hậu quả, mức hình phạt của các bị cáo, thấy rằng: Chỉ vì mâu thuẫn giữa anh Đinh Quang M1 với Nguyễn Anh T3 tại quán nhậu AD có địa chỉ 202 Đường L2, T, mà vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 05/12/2020 các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1 và Nguyễn Anh T3 đã dùng tay chân và hung khí nguy hiểm như vỏ chai bia, mũ bảo hiểm đánh vào đầu, đâm vào lưng, hông của anh M1 gây thương tích 49%. Với hành vi và hậu quả như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 15, Điều 18, khoản 2 Điều 101, khoản 3 Điều 102 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 03 năm tù về tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, khoản 1 Điều 54, khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Phước L 4 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, khoản 1 Điều 54, khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Q1 4 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”; áp dụng khoản 2 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38, khoản 1 Điều 54, khoản 3 Điều 57 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T3 03 năm tù về tội “Giết người”.

Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L và Nguyễn Q1. HĐXX thấy rằng: Việc mâu thuẫn xảy ra giữa anh Đinh Quang M1 và Nguyễn Anh T3 không liên quan gì đến các bị cáo Q, L và Q1 nhưng bị cáo Q đã dùng vỏ chai thủy tinh đánh vào đầu anh M1 vỡ vỏ chai và dùng vỏ thứ hai đánh tiếp, khi chai vỡ thì dùng chai vỡ đâm 03 nhát vào lưng, hông và ngực anh M1 gây thương tích; bị cáo L cũng dùng vỏ chai đánh vào lưng anh M1 01 cái và dùng mũ bảo hiểm ném vào người anh M1; bị cáo Q1 dùng mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào đầu anh M1. Tổng thương tích các bị cáo gây ra cho anh M1 là 49%. Xét thấy bị cáo Q là hung hãn côn đồ nhất, nhưng do bị cáo là người chưa đủ 16 tuổi nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 3 năm tù nhẹ, do vậy cần tăng thêm mức án để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với bị cáo L và Q1 cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 4 năm 6 tháng tù là chưa tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo trên 18 tuổi, do vậy cần tăng thêm hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay người bị hại có gửi đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L với lý do bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thêm cho anh M1 10.000.000đ, nên cũng cần xem xét mức hình phạt của bị cáo L nhẹ hơn so với bị cáo Q1.

Từ những nhận định trên đây; xét thấy Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam là có căn cứ; HĐXX chấp nhận kháng nghị và tăng hình phạt cho các bị cáo Q, L và Q1 lên cao hơn so với mức hình phạt của cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L và Nguyễn Q1 không phải chịu án phí án phí hình sự phúc thẩm

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSQN-P2 ngày 09/6/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, sửa phần hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L, Nguyễn Q1 phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 2 Điều 101; khoản 3 Điều 102; Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 03 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2020.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước L 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/10/2021. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tam giam từ ngày 07/12/2020 đến ngày 26/3/2021.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Q1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2020.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Minh Q, Huỳnh Phước L và Nguyễn Q1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/8/2022).

Cỡ chữ