- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 302/2021/HNGĐ – ST Ngày: 01/07/2021 V/v “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Huỳnh Hậu
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tuấn Thảo Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 07 năm 2021 tại Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2020/TLST-HNGĐ
ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày
12 tháng 05 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số: 55/2021/QĐST-HNGĐ
ngày 03 tháng 06 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hồng Y, sinh năm: 1985 (có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 338/9/4 đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Tổ 2, ấp 3, xã E, huyện F, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Ông A, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số 338/9/4 đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ
Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 02/10/2020 và quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn là bà Đỗ Thị Hồng Y bày:
Bà Đỗ Thị Hồng Y và ông A sống chung với nhau từ năm 2002, đến năm
2010 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72, ngày 29/7/2010 tại
Ủy ban nhân dân Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Đỗ Thị Hồng Y và ông A có hai người con chung tên Đỗ Trần Quỳnh
A (nữ), sinh ngày 11/03/2006 và A Đỗ Phúc N (nam), sinh ngày 10/08/2017.
Cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là
do tính tình và cách sống không hòa hợp. Vợ chồng không có hạnh phúc, không thể chung sống được nữa nên bà Y yêu cầu giải quyết ly hôn với ông A.
Trường hợp ly hôn:
- Về con chung: Bà Y giao hai người con chung tên Đỗ Trần Quỳnh A và
A Đỗ Phúc N cho ông A nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.
- Về tài sản chung: Bà Y và ông A không có tài sản chung.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Y xác định vợ
chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai.
* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt
cho ông A các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải theo qui định tại các Điều 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông A không đến làm việc và hòa giải nên không ghi được ý kiến của ông A. Ngày 02/03/2021, Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được do bị đơn là ông A vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời nguyên đơn là bà Đỗ Thị Hồng Y có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
* Tại phiên tòa:
- Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do.
Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa
hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thời hạn đưa vụ án ra xét xử trễ hạn so với quy định pháp luật, Tòa án cần rút kinh nghiệm.
Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia các buổi làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là đã tự từ bỏ quyền trình bày và cung cấp chứng cứ của mình.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy có cơ sở để chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà Y được ly hôn với ông A; giao hai người con chung tên Đỗ Trần Quỳnh A và A Đỗ Phúc N cho ông A nuôi dưỡng.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng Y,
xác định đây là vụ án dân sự về việc “Ly hôn”. Bị đơn cư trú tại Quận 10, Thành
phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
Quận 10 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn đã có
đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Đỗ Thị Hồng Y và ông A chung sống từ năm 2002, năm 2010 có đăng
ký kết hôn đúng qui định nên hôn nhân của họ là hợp pháp.
Theo bà Y thì nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do tính tình
và cách sống không hòa hợp. Thời gian đã lâu đến nay không còn tình cảm,
không thể hàn gắn nên bà Y yêu cầu giải quyết ly hôn với ông A. Xét thấy cuộc
sống chung không đem lại hạnh phúc cho bà Y, mục đích hôn nhân không đạt
được, ông A không đến Tòa án để hòa giải chứng tỏ ông A cũng không còn quan
tâm đến cuộc sống chung. Vợ chồng không có sự quan tâm chia sẽ gắn bó lẫn
nhau, do đó Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát
nhân dân Quận 10 là chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Y được ly hôn
với ông A.
- Về con chung: Bà Y đồng ý giao hai người con chung tên Đỗ Trần
Quỳnh A và A Đỗ Phúc N cho ông A nuôi dưỡng vì từ khi vợ chồng ở riêng vào
năm 2020 thì hai người con vẫn ở với cha. Cháu Quỳnh A trên 7 tuổi cũng có
nguyện vọng hai chị em được tiếp tục sống cùng với cha. Do đó giao hai người
con chung tên Đỗ Trần Quỳnh A và A Đỗ Phúc N cho ông A trực tiếp nuôi
dưỡng. Bà Y và ông A tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Y khai bà Y và ông A không có tài sản chung nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Y xác định bà Y và
ông A không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự
với ai nên không xét.
Về án phí: Bà Đỗ Thị Hồng Y chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110,
Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hồng Y được ly hôn với ông A.
- Về con chung:
Giao cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung tên Đỗ Trần
Quỳnh A (nữ), sinh ngày 11/3/2006 và A Đỗ Phúc N (nam), sinh ngày 10/8/2017. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do bà Đỗ Thị Hồng Y và ông A tự thỏa thuận.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn;
nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng hoặc phương thức cấp dưỡng nuôi con theo qui định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị Hồng Y không yêu cầu giải quyết nên Tòa
án không xét.
- Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Đỗ Thị Hồng Y
xác định vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, Tòa án không xét.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Hồng Y chịu án phí dân sự sơ thẩm
số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số: AA/2019/0049621 ngày 14/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 , Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ tiền án phí.
Bà Đỗ Thị Hồng Y, ông A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày
kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q.10; - Các đương sự, - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Huyền |