vanban.org

Bản án 302/2017/HSST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điểm b Khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Ngô Tấn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2017/HSST
Ngày 25/9/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm:

Bà Nguyễn Thị Quý

Bà Nguyễn Thị Lượng

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang – là Thư ký Tòa án nhân dân

quận T, Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố

H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 191/2017/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Ngô Tấn T, giới tính: nam, Sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 21/3/1 đường 10, khu phố 3, phường Linh Trung, quận T, Thành phố H; Chỗ ở: 21/3/1 đường 10, khu phố 3, phường Linh Trung, quận T, Thành phố H; trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: không; con ông: Ngô Thanh T và bà Nguyễn Thị Ngọc H; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam ngày 23/3/2017- có mặt.

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm

tội như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 23/3/2017, công an phường Linh Chiểu, quận

Thủ Đức kiểm tra nhà không số, đường 18, tổ 37, khu phố 3, phường Linh Chiểu, quận T, Thành phố H bắt quả tang Ngô Tấn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Tài: 02 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu do Tài để dưới chiếu trên gác nhà bên cạnh chỗ Tài nằm, nên đưa Tài cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức làm rõ.

Kết luận giám định số 670/KLGĐ-H ngày 15/5/2017 của phòng Kỹ thuật

hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 02 gói nylon được niêm phong có chữ ký ghi tên Ngô Tấn T và hình dấu công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3979gram, loại Methamphetamine (MA).

Quá trình điều tra xác định:

Ngô Tấn T là người nghiện ma túy. Vào lúc 13 giờ 47 phút ngày

23/3/2017, Tài đi đến khu vực gần trường tiểu học Nguyễn Văn Banh, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức gọi điện thoại cho người tên Hiếu (chưa xác định) mua 1.000.000 đồng ma túy. Hiếu đưa cho Tài 02 gói ma túy. Sau đó, Tài đến nhà bạn tại địa chỉ nhà không số, đường số 18, khu phố 3, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức. Tài lên gác nằm ngủ và để 02 gói ma túy vừa mua bên cạnh. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức kiểm tra và phát hiện như trên.

Tại bản cáo trạng số 207/CT-VKS ngày 21/6/2017 của Viện kiểm sát nhân

dân quận T, Thành phố H đã truy tố bị cáo Ngô Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ngô Tấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Ngô Tấn T 01-02 năm tù.

Bị cáo Ngô Tấn T khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra

tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời khai của bị cáo Ngô Tấn T phù hợp với biên bản bắt người có hành vi

phạm tội quả tang ngày 23/3/2017, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định bị cáo Ngô Tấn T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3979g ma túy thể rắn, loại Methamphetamine. Hành vi này của bị cáo Ngô Tấn T đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng Viện kiểm nhân dân quận T, Thành phố H truy tố là có căn cứ.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa

đổi, bổ sung năm 2017, điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy có lợi hơn khoản 1 Điều 194 của BLHS năm 1999 được sửa, đổi bổ sung năm 2009 nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo Ngô Tấn T.

Tội phạm mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến độc

quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây nguy hại cho sức khỏe của con người, góp phần làm băng hoại đạo đức xã hội, kích thích các tệ nạn xã hội khác có cơ hội phát triển. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn

khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 của Bộ luật hình sự.

Đối với người thanh niên tên Hiếu bán ma túy cho Tài, do chưa xác định

được lai lịch nên sẽ làm rõ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

- 01 gói niêm phong ghi số vụ 670 có chữ ký Giám định viên Trần Đình

Hải bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định và 10 ống thủy tinh thì cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Nokia 1202 màu xám có liên quan đến việc phạm

tội nên cần tịch thu sung công

Xét cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định Bộ

luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Ngô Tấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự

năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điểm b Khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Ngô Tấn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2017

Áp dụng Điều 41 của BLHS và Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số vụ 670 có chữ ký Giám định

viên Trần Đình Hải bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định và 10 ống thủy tinh;

Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động Nokia 1202 màu xám

(Theo phiếu nhập số NKT2017/156 ngày 01/8/2017 của Chi cục thi hành

án dân sự quận T, Thành phố H).

Áp dụng khoản 1 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự;

Buộc bị cáo Ngô Tấn T phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí

hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ