vanban.org

Bản án 301/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ T T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 301/2022/HS-ST
Ngày: 21 – 11 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Tâm.

Bà Trần Ngọc Phƣơng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 320/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 314/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2022/QĐST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

T, sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi ĐKHKTT: khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông S, sinh năm 1963 và bà C, sinh năm 1966; bị cáo có vợ tên H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 01 ngƣời con tên T2, sinh năm 2007;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23/02/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 80/2012/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/6/2016 tại Tại Trại giam Xuân Lộc – Cục 10 – Bộ Công an và thực hiện xong nghĩa vụ án phí; Ngày 31/3/2017, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng B, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dƣơng ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp phƣờng theo Quyết định số 370/QĐ-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong thời gian giáo dục tại cấp phƣờng theo giấy chứng nhận số 17/GCN-UBND ngày 30/6/2017.

Bị cáo bị truy nã theo Quyết định truy nã bị can số 07/QĐTN-CSĐT (HS) ngày 09/02/2022. Bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2022 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông N, sinh năm 1989; nơi cƣ trú: Ấp B, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Ấp T, thị trấn P, huyện S, tỉnh An Giang, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông D, sinh năm 1967; nơi cƣ trú: Khu phố L, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Đ; ông T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng tháng 11/2020, bị cáo T và ông N cùng ngồi tại quán ăn uống thuộc địa chỉ khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Tại đây, sau khi nghe ông N nói về sự việc hai ngƣời anh ruột là ông Đ và Đ2 đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An khởi tố, điều tra về tội cố ý gây thƣơng tích thì bị cáo T nảy sinh ý định thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tiền của ông N. Để thực hiện hành vi trên, bị cáo Tnói với ông N rằng có quen biết với Công an thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng (thực tế bị cáo T không quen biết ai và không có khả năng) nên ngỏ lời hứa giúp cho ngƣời thân của ông N đƣợc tại ngoại với số tiền 55.000.000 đồng. Sau khi nghe bị cáo T trình bày thì ông N đồng ý.

Vào ngày 25/11/2020, bị cáo T hẹn gặp ông N tại quán cà phê tên L địa chỉ khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng để nhận số tiền 40.000.000 đồng là tiền ứng trƣớc và viết giấy nhận tiền. Đối với số tiền 15.000.000 đồng còn lại, bị cáo T và ông N thỏa thuận khi nào ngƣời thân của ông N đƣợc tại ngoại thì ông N sẽ đƣa sau. Sau khi nhận số tiền 40.000.000 đồng, bị cáo T đã sử dụng với mục đích tiêu xài cá nhân. Ông N đã nhiều lần liên hệ với bị cáo T nhƣng bị cáo T không nghe điện thoại và trốn tránh, ngày 02/6/2021 ông N đã đến Công an thành phố Thuận An trình báo sự việc.

Quá trình điều tra, bị cáo T trốn khỏi địa phƣơng và bị truy nã đến ngày 18/8/2022 ra đầu thú. Công an Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiếp nhận và lập hồ sơ xử lý theo quy định pháp luật.

Cáo trạng số 315/CT-VKS-TA ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản xác minh địa điểm, lời khai của bị hại và ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/11/2020, tại quán cà phê L địa chỉ khu phố B, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo T dùng thủ đoạn gian dối giả danh mình là ngƣời quen của Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giúp ngƣời thân của ông N là ông Đ và Đ2 đang bị tạm giam đƣợc tại ngoại với mục đích lừa dối ông N chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng. Thực tế bị cáo không hề quen biết ai trong Công an thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng và không có khả năng trên.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì động cơ tƣ lợi, bằng thủ đoạn gian dối, giả danh mình là ngƣời quen biết với Công an thành phố Thuận An, lừa dối ngƣời khác, làm cho họ tin tƣởng đƣa tiền cho mình nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp phƣờng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học, làm lại cuộc đời, làm ngƣời công dân có ích cho xã hội mà còn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhƣ trên. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thƣờng cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quá trình điều tra bị cáo đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đƣợc chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Ông D đại diện cho gia đình bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thƣờng lại số tiền 40.000.000 đồng (số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại), bị hại đã nhận số tiền nêu trên và không có yêu cầu gì trong vụ án; ông D không có yêu cầu gì đối với số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2022.

2. Về án phí: Bị cáo T phải chịu số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ