vanban.org

Bản án 301/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Thanh T phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Xử phạt bị cáo Đào Thanh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đào Thanh T phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 - phạm tội…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Thanh T phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 301/2022/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Nam Lê Thiện;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 280/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 313/2022/QĐXXST-HS ngày 16/9/2022, đối với bị cáo:

Đào Thanh T, sinh năm 1993, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thƣờng trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh A; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Đào Thanh S (đã chết) và bà Lê Kiêm P, sinh năm 1972; bị cáo có 03 em ruột, lớn sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2022 cho đến nay. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Nhân thân: Ngày 16/12/2009 Chủ tịch Ủy ban nhân huyện C, tỉnh A ra Quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào trƣờng giáo dƣỡng thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong vào ngày 14/4/2013.

- Bị hại:

+ Ông Lô Văn S1, sinh năm 1977; thƣờng trú: Xóm B, xã Y1, huyện T, tỉnh N. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

+ Ông Lƣơng Văn P, sinh năm 1977; thƣờng trú: Bản Y, xã Y1, huyện T, tỉnh N. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Kiêm P, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh A. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ngƣời chứng kiến: Ông Trần Hữu H, sinh năm 1984; địa chỉ: 57/23, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Anh Lô Văn S1, anh Lƣơng Văn P và Đào Thanh T làm phụ hồ chung, quen biết nhau đƣợc khoảng 01 tuần và sống cùng nhau tại quán cơm “Bạn Hữu” có địa chỉ tại Đƣờng D5, Khu phố T, phƣờng T1, thành phố D, tỉnh B.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 03/4/2022, anh S1, anh P và T đi uống rƣợu với nhau tại quán không rõ tên thuộc khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Sau đó, anh S1 tính tiền đi về trƣớc còn T và anh P tiếp tục uống rƣợu. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhậu xong T và anh P đi về quán cơm “Bạn Hữu” nằm trên đƣờng D5, khu dân cƣ Biconsi, thuộc khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B để nghỉ. Anh P say nên nằm ngủ trên võng. Lúc này, T nhìn thấy anh S1 đang nằm trên võng ngủ nên T gọi anh S1 dậy nói chuyện. T hỏi anh S1 lý do vì sao đi uống rƣợu chung mà bỏ về trƣớc. Lúc này, T dùng tay cầm lấy ghế nhựa màu xanh đánh vào vùng đầu của anh S1, anh S1 đƣa tay lên đỡ làm gãy tay ghế, thấy vậy anh S1 bỏ chạy vào trong quán cơm, ngồi xuống và ôm đầu thì T đuổi theo, cầm theo tay ghế nhựa bị gãy và đấm hai đến ba cái vào đầu, mặt của anh S1. Tiếp đó, T đi đến chỗ anh P nằm và dùng tay cầm tay ghế đấm vào mặt, đầu và cổ của anh P bốn cái. Lúc này, Công an phƣờng Tân Bình đi tuần tra phát hiện sự việc nên lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với T và lập hồ sơ chuyển giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An xử lý.

Vật chứng thu giữ: + 01 ghế nhựa màu xanh đã bị gãy, bể;

+ 05 mảnh nhựa màu xanh.

+ 01 USB ghi lại sự việc T đánh anh P (lƣu trong hồ sơ vụ án).

* Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0361 ngày 12/4/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai kết luận thƣơng tích của anh Lƣơng Văn P nhƣ sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

Vết thƣơng gò má trái dài 08 cm, rộng nhất 01 cm, hẹp nhất 0,2 cm. Tỉ lệ 09%.

Vết thƣơng cổ kích thƣớc 04 x 03 cm. Tỉ lệ 04%.

- Kết luận: Căn cứ thông tƣ số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trƣởng bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lƣơng Văn P áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi tại thông tƣ là 13 %.

- Kết luận khác: Không.

* Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0364 ngày 12/4/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai kết luận thƣơng tích của anh Lô Văn S1 nhƣ sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Phần vết thƣơng trán phải nằm trong chân tóc kích thƣớc 03 x 0,2 cm. Tỷ lệ: 01%.

+ Phần vết thƣơng trán phải nằm ngoài chân tóc kích thƣớc 02 x 0,2 cm. Tỷ lệ: 03%.

+ vết thƣơng thái dƣơng phải kích thƣớc 06 x 0,2 cm. Tỉ lệ 02%.

+ Mất da nông mặt sau 1/3 dƣới cẳng tay phải kích thƣớc 06 x 03 cm. Tỷ lệ 03%.

- Kết luận: Căn cứ thông tƣ số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trƣởng bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lô Văn S1 áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi tại thông tƣ là 09 %.

- Kết luận khác:

+ Vật gây thƣơng tích :

Thƣơng tích đầu, cổ và cẳng tay phải: Vật tày có cạnh.

Chấn thƣơng mắt phải và gò má phải: Vật tày.

- Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra trƣng cầu giám đinh bổ sung sau khi vết sây sát da vùng cổ để lại sẹo hoặc biến đổi sắc tố da (nếu có).

* Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0681/TgT/2022 ngày 24/06/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai kết luận thƣơng tích của anh Lô Văn S1 nhƣ sau:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Đã đƣợc Trung tâm pháp Y Đồng Nai giám định kết luận tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể là 09% tại Bản kết luận số 0364/TgT ngày 12/04/2022.

+ Phần bổ sung: Vết biến đổi sắc tố da vùng cổ phải. Tỷ lệ: 01%.

- Căn cứ thông tƣ số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trƣởng bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lô Văn S1 áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi tại thông tƣ là:10%.

- Kết luận khác: Không.

* Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0682/TgT/2022 ngày 30/06/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai đối với nạn nhân Lƣơng Văn P, mục IV phần kết luận nêu:

* Dấu hiệu chính qua giám định hồ sơ bệnh án và tài liệu hiện có:

- Vào ngày 03/4/2022 nạn nhân Lƣơng Văn P bị đánh gây thƣơng tích.

- Tổn thƣơng chính: Vết thƣơng gò má trái dài 08 cm, rộng nhất 01 cm, hẹp nhất 0,2 cm. Vết thƣơng cổ kích thƣớc 04x0,3 cm.

*Kết luận theo nội dung trƣng cầu, yêu cầu giám định:

Cơ chế hình thành vết thƣơng của Lƣơng Văn P - sinh năm: 1977

- Vết thƣơng gò má trái dài 08 cm, rộng nhất 01 cm, hẹp nhất 0,2 cm. Tổn thƣơng này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động lực đủ mạnh vào vùng gò má trái theo hƣớng từ trái qua phải, chếch từ sau ra trƣớc hoặc theo hƣớng song song bề mặt của da và từ trên xuống dƣới gây nên.

- Vết thƣơng cổ kích thƣớc 04x0,3 cm. Tổn thƣơng này do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động lực vừa đủ vào vùng cổ trƣớc - trái, hƣớng từ trái qua phải, từ trƣớc ra sau hoặc trƣợt bề mặt của da gây nên.

Tại Bản cáo trạng số 309/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Đào Thanh T về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đào Thanh T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Kiêm P ( mẹ của Đào Thanh T) đã bồi thƣờng cho anh Lƣơng Văn P và anh Lô Văn S1 số tiền 1.000.000 đồng/ ngƣời, anh P và anh S1 không yêu cầu Đào Thanh T bồi thƣờng gì khác nên về trách nhiệm dân sự không đề cập đến. Bà Phƣợng không yêu cầu T trả lại cho bà số tiền này.

Về xử lý vật chứng: 01 ghế nhựa màu xanh đã bị gãy và 05 mảnh nhựa màu xanh Đào Thanh T sử dụng để gây thƣơng tích cho anh Lƣơng Văn P và anh Lô Văn S1, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. 01 USB ghi lại sự việc T đánh anh P (lƣu trong hồ sơ vụ án).

Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo nêu ý kiến: xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị hại nêu ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự không đặt ra. Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Kiêm P đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đối với số tiền bà P đã bồi thƣờng cho các bị hại, không yêu cầu bị cáo trả lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Lúc 21 giờ 00 phút ngày 03/4/2022, tại quán “Bạn Hữu” địa chỉ tại đƣờng D5, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B, Đào Thanh T là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu, mặt, cổ của anh Lƣơng Văn P gây thƣơng tích 13% và anh Lô Văn S1 gây thƣơng tích 10%. Xét, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của ngƣời chứng kiến tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản xác định địa điểm, Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 0361 ngày 12/4/2022 và số 0364 ngày 12/4/2022 và 0681/TgT/2022 ngày 24/06/2022 và số 0682/TgT/2022 ngày 30/06/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai, trích xuất dữ liệu hình ảnh. Nhƣ vậy, hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng số 309/CT-VKS-A ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 06 năm tù, bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại đƣợc bảo vệ mà còn ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo c ng nhƣ có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 ghế nhựa màu xanh đã bị gãy, bể và 05 mảnh nhựa màu xanh là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và tang vật của vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 USB hiệu Tosiba màu trắng 08 GB ghi lại hành vi phạm tội của bị cáo cần lƣu tại hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra đối với bị cáo về tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng và việc trách nhiệm dân sự là phù hợp; Riêng mức hình phạt đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, do vậy Hội đồng xét xử xử phạt mức hình phạt bị cáo thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đào Thanh T phạm tội Cố ý gây thƣơng tích.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đào Thanh T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ghế nhựa màu xanh đã bị gãy, bể và 05 mảnh nhựa màu xanh.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

- Lƣu hồ sơ vụ án: 01 USB hiệu Tosiba màu trắng 08 GB.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Đào Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.

Cỡ chữ