vanban.org

Bản án 301/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Kim O.

Về tình cảm: Chị Đặng Kim O được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đặng Hữu P, sinh ngày 24/7/2004 và Nguyễn Đặng Mỹ U, sinh năm 18/5/2006 cho chị Đặng Kim O nuôi dưỡng cho đến khi cháu P, cháu U đủ 18 tuổi, lao động được. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Kim Oanh và Nguyễn Hữu Hóa"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Kim O.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2020/HNGĐ-ST;
Ngày: 22/6/2020.
V/v “Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Hiền Huệ;

Ông Nguyễn Văn Vẹn;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Kim Cương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 70/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 60/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Đặng Kim O, sinh năm 1969;

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

2. Bị đơn: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1964;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định;

Chỗ ở hiện tại: số 14 Ô 2, khu II, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Chị O có mặt; anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn và các lời trình bày tại tòa nguyên đơn chị Đặng Kim O trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu H cưới nhau vào năm 2001, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng quan điểm trong

- 2 -

cuộc sống, không hợp tính tình do anh H tính tình rất gia trưởng, vợ chồng thường xuyên cải vả, chị đã khuyên can anh H nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng duy trì hôn nhân đến năm 2013 nhưng mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể trở lại chung sống được nữa nên chị xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 02 con tên Nguyễn Đặng Hữu P, sinh ngày 24/7/2004 và Nguyễn Đặng Mỹ U, sinh ngày 18/5/2006. Hiện cháu P và cháu U đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P và cháu U; và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Hữu H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Kim O về việc xin ly hôn, về yêu cầu nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn chị Đặng Kim O yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hữu H, yêu cầu được nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa phương nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét bị đơn anh Nguyễn Hữu H đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh H.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Kim O, Hội đồng xét xử xét thấy:

- 3 -

[3.1] Về tình cảm: Chị Đặng Kim O và anh Nguyễn Hữu H cưới nhau năm 2001, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị O xin ly hôn với anh H với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống không hợp tính tình do anh H tính tình rất gia trưởng, vợ chồng thường xuyên cải vả, chị O đã khuyên can anh H nhiều lần và hai vợ chồng đã cố gắng duy trì hôn nhân đến năm 2013 nhưng mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị O và anh H đã sống ly thân từ năm 2013 đến nay. Tại phiên tòa chị O vẫn cương quyết xin ly hôn với anh H, phía anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa cho thấy anh H không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa anh chị. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh H không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị Đặng Kim O là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Xét yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Đặng Hữu P, sinh ngày 24/7/2004 và Nguyễn Đặng Mỹ U, sinh ngày 18/5/2006 của chị O là có cơ sở vì cháu P và cháu U đang sống với chị O đã ổn định về chỗ ở, về điều kiện sinh hoạt; đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P, cháu U muốn được sống với chị O. Phía anh H không có văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng cháu P, cháu U và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị O, giao cháu P, cháu U cho chị O nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị O không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu P, cháu U.

Về tài sản chung: Chị O khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị Oanh khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đặng Kim O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- 4 -

- Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Kim O.

Về tình cảm: Chị Đặng Kim O được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đặng Hữu P, sinh ngày 24/7/2004 và Nguyễn Đặng Mỹ U, sinh năm 18/5/2006 cho chị Đặng Kim O nuôi dưỡng cho đến khi cháu P, cháu U đủ 18 tuổi, lao động được.

Anh Nguyễn Hữu H được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về án phí: Chị Đặng Kim O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0003410 ngày 13/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, do vậy chị O đã nộp xong án phí.

Báo nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ