vanban.org

Bản án 300/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 13/05/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo D.T.H.Y phạm tội “Môi giới mại dâm”

* Căn cứ vào:- Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 36/2016//UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội môi giới mại dâm đối với bị cáo D.T.H.Y - môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo D.T.H.Y phạm tội “Môi giới mại dâm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2026/HS-ST
Ngày 13 tháng 05 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hải Hà

Ông Lưu Mạnh Hoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tùng Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 05 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 212/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 460/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: D.T.H.Y, sinh năm 1997; HKTT: Ấp T, xã K, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở: Phòng B nhà số B đội B Thôn Y, phường T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Bố là: D.T.H, sinh năm 1976; Mẹ là: V.T.P.T, sinh năm 1978;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2025. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội

(Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

D.T.H.Y làm công việc phục vụ tại quán Karaoke, qua giao tiếp có quen biết T.Q.H. Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 19/12/2025, Y nhận được tin nhắn qua tài khoản mạng xã hội Zalo tên "T.N" rủ Y đi ăn, sau đó H đã nhờ Y giới thiệu cho mình gái bán dâm. Y sử dụng Zalo tên "H.Y" nhắn tin cho M (tài khoản Zalo "M.H") nói có khách hỏi mua dâm. M đồng ý bán dâm với giá 3.000.000 đồng/lượt và sẽ trả cho Y số tiền 500.000 đồng là tiền công môi giới. Y đã báo lại với H giá mua dâm là 3.000.000 đồng. H đồng ý và hẹn Y đến số S, phố V, phường N, Hà Nội ngồi ăn cùng với T.Q.H và N.V.H, Đ.X.K (đều là bạn của Q.H). Tại đây, Q.H bảo Y hẹn M đến phòng H, khách sạn A, số H, ngõ B, phố Đ, phường N, thành phố Hà Nội bán dâm cho H, đồng thời H đưa cho Y 3.000.000 đồng là tiền mua dâm của M.

Đến khoảng 21 giờ 45 phút ngày 19 tháng 12 năm 2025, tổ công tác Công an phường N, Tp Hà Nội tiến hành kiểm tra hành chính tại khách sạn A, số H, ngõ B, phố Đ, phường N, Tp Hà Nội đã phát hiện, bắt quả tang T.T.M (Sinh năm: 1990, Nơi cư trú: Xóm B, thôn B, xã T, tinh Thanh Hóa) và T.Q.H (Sinh năm: 2000, Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường T, tỉnh B) đang thực hiện hành vi mua bán dâm. M và H đã khai nhận được D.T.H.Y môi giới để thực hiện hành vi mua, bán dâm.

Ngày 20/12/2025, D.T.H.Y đã bị bắt tạm giữ và khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ gồm:

Tạm giữ của T.T.M: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 13 Promax màu xanh dương, có số Imei 1: 35321048277xxxx; số Imei 2: 3532104827xxxx, số sim: 058289xxxx.

Tạm giữ của T.Q.H:

- 01 (một) bao cao su đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu trắng có số

SIMCARD: 033818xxxx; số Imei 1: 35287311121xxxx; số Imei 2:

35287311119xxxx.

Tạm giữ của D.T.H.Y:

- 3.000.000 đồng (ba triệu đồng);

- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 098894xxxx; số Imei 1: 35377639411xxxx; số Imei 2: 35377639400xxxx (Đã qua sử dụng).

* Đối với anh T.Q.H và chị T.T.M: căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Ngày 16/3/2006 Công an phường N, thành phố Hà Nội đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 92/QĐ-XPHC đối với T.Q.H về hành vi “Mua dâm” theo quy định tại Điều 32, Nghị Định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, mức phạt tiền 1.500.000 đồng; Ra quyết định xử phạm vi phạm hành chính số 93/QĐ-XPHC đối với T.T.M về hành vi “Bán dâm” theo quy định tại Điều 33, Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, mức phạt tiền 400.000 đồng.

Đối với khách sạn A – Công ty TNHH N: Công ty N xuất trình giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh; giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự. Khi H và M đến thuê phòng nghỉ, đã được cập nhật vào hệ thống quản lý lưu trú theo quy định. Nhân viên khách sạn không biết việc các đối tượng thuê phòng nghỉ với mục đích mua bán dâm. Do vậy cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với anh N.V.H và anh Đ.X.K chỉ đi ăn cùng T.Q.H, không biết việc T.Q.H mua dâm T.T.M, không biết việc D.T.H.Y có hành vi môi giới mại dâm nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Ngày 16/3/2026 cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố Hà Nội ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại cho T.Q.H 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax màu trắng, số IMEI 1: 35287311121xxxx, số IMEI 2: 35287311119xxxx; Trao trả cho T.T.M 01 điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh dương, số IMEI 1: 35321048277xxxx, số IMEI 2: 3532104827xxxx; Tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSHNI-KV1 ngày 24/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội đã truy tố bị cáo D.T.H.Y về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo D.T.H.Y khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo D.T.H.Y từ 06- 10 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0988944263, số IMEI 1: 35377639411xxxx và IMEI 2: 35377639400xxxx và số tiền 3.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Y do có liên quan đến hành vi phạm tội;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 19/12/2025 D.T.H.Y đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt để chị T.T.M bán dâm cho anh T.Q.H tại phòng số H khách sạn A, số H, ngõ B, phố Đ, phường N, thành phố Hà Nội. Khi chị M và anh H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an phường Ngọc Hà phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo D.T.H.Y đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp, không những xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, lành mạnh, sức khỏe của con người mà còn trực tiếp xâm hại đến truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân lây truyền các bệnh xã hội. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo D.T.H.Y nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 098894xxxx, số IMEI 1: 35377639411xxxx; IMEI 2: 35377639400xxxx và số tiền 3.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo D.T.H.Y do có liên quan đến hành vi phạm tội;

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo D.T.H.Y phạm tội “Môi giới mại dâm”

* Căn cứ vào:- Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Điều 106, Điều 136, Điều 299, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 36/2016//UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016:

+ Xử phạt D.T.H.Y 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025.

* Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 098894xxxx, số IMEI 1: 35377639411xxxx; IMEI 2: 35377639400xxxx và số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 314 ngày 03/4/2026.

Số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) hiện do Kho bạc Nhà nước Khu vực 1- Phòng giao dịch số 10 quản lý theo Giấy nộp tiền số 1 ngày 09/4/2026 (Đơn vị nhận: Thi hành án dân sự Tp Hà nội).

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo D.T.H.Y phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ