vanban.org

Bản án 300/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ng3 Thị ÁnhNg được ly hôn với anh Huỳnh Văn Ng2.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007, cho chị Ng Thị Ánh Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Huỳnh Chí Ng3, sinh ngày 31/10/2009, cho anh Huỳnh Văn Ng2 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu nên không xem xét. Cháu Th có nguyện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ng3 Thị ÁnhNg được ly hôn với anh Huỳnh Văn Ng2.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 5 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Hoàng Nam

Ông Lê Phú Quốc

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 645/2023/TLST - HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXX-ST, ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ng Thị Ánh Ng, sinh năm 1989 (có đơn xét xử vắng).

Địa chỉ thường trú: Ấp HT, xã HH, huyện GR, tỉnh KG

Địa chỉ tạm trú: Ấp 6, xã VĐ, huyện VT, tỉnh HG.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn Ng2, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp HT, xã HH, huyện GR, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2023 nguyên đơn chị Ng3 Thị ÁnhNg trình bày: Chị Ng3 Thị Ánh Ng và anh Huỳnh Văn Ng2 quen biết và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị và anh Ng2 không được hạnh phúc thường xuyên cự cải. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh và chị chưa thật sự tìm hiểu kỹ về nhau, nên khi về sống không phù hợp tính nết với nhau. Nay chịNg xét thấy không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với anh Ng2, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn Ng2.

Về con chung: Chị Ng xác định có hai người con chung cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007, hiện đang sống cùng với chị và cháu Huỳnh Chí Ng3, sinh ngày 31/10/2009, hiện đang sống cùng với anh Ng2 và gia đình anh Ng2. Nay chịNg yêu cầu được nuôi cháu Th, do cháu Th có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Chị giao cháu Ng3 cho anh Ng2 trực tiếp nuôi dưỡng do cháu Ng3 có nguyện vọng được ở với cha, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Văn Ng2 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Ng2 không có văn bản phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tòa án đã triệu tập anh Huỳnh Văn Ng2 đến tham dự phiên dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh Ng2 vẫn vắng mặt, không vì lý do bất khả kháng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông qua thủ tục niêm yết nơi cư trú của bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Đối với nguyên đơn có đơn đề nghị vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Ng3 Thị ÁnhNg được ly hôn với anh Huỳnh Văn Ng2.

Về con chung chịNg xác định có hai người con chung gồm cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007 và cháu Huỳnh Chí Ng3, sinh ngày 31/10/2009. Hiện cháu Th đang sống cùng chịNg và cháu Ng3 sống với anh Ng2. Trong quá trình tố tụng anh Ng2 vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu, chịNg có ý kiến giao cho mỗi người nuôi một người con theo nguyện vọng của các con. Nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007 cho chịNg trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Huỳnh Chí Ng3 cho anh Ng2 trực tiếp chắm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng không ai phải cấp dưỡng nuôi con do các bên không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung; nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; buộc chịNg phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý đơn đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, anh Huỳnh Văn Ng2 với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp Hòa Thành, xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Đối với bị đơn trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng; nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Ng3 Thị ÁnhNg với anh Huỳnh Văn Ng2 là hôn nhân hợp pháp đã tuân thủ đúng các điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, theo thẩm quyền đăng ký kết hôn quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nguyên nhân, dẫn đến ly hôn chịNg cho rằng giữa chị và anh Ng2 thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm sống. Cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Ng2, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn. Đối với anh Huỳnh Văn Ng2 Tòa án đã tiến hành thông báo các thủ tục tố tụng và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng anh Ng2 không có mặt và không có ý kiến phản hồi về việc ly hôn của chịNg. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân là nhằm để xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên phải có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, muốn đạt được điều này vợ chồng cùng xây dựng, nhưng chịNg không còn tình cảm vợ chồng với anh Ng2 và cả hai đã sống ly thân. Đồng thời, theo xác minh tại địa phương nơi cư trú của anh Ng2 xác định hiện tại chịNg và anh Ng2 đã không còn sống chung với nhau. Từ đó, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chịNg và anh Ng2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong Th luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu ly hôn của chịNg đối với anh Ng2.

. Về con chung: ChịNg xác định chị và anh Ng2 có với nhau hai người con chung gồm cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007 và cháu Huỳnh Chí Ng3, sinh ngày 31/10/2009, từ khi ly thân đến nay chịNg trực tiếp nuôi cháu Th anh Ng2 nuôi cháu Ng3, theo nguyện vọng của các con thì cháu Th có nguyện vọng ở với mẹ, cháu Ng3 có nguyện vọng ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn. Theo quy định của Luật hôn nhân và đình vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Trong suốt quá trình tố tụng anh Ng2 đều vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ hay ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con. Cũng như không có căn cứ gì chứng minh chịNg không đảm bảo điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét. Theo ý kiến của chịNg và nguyện vọng của hai con, nhằm giữ sự ổn định và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con, nghị nên tiếp tục giao cháu Th cho chị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Ng3 cho anh Ng2 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các con và phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Cháu Th có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Cháu Ng3 có nguyện vọng ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

ChịNg, anh Ng2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: ChịNg không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, chị Ng3 Thị ÁnhNg phải chịu án phi ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí chịNg đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu của Cơ quan Thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 144; Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 235; 266; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Áp dụng Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84; 110; 116; 117 và 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ng3 Thị ÁnhNg được ly hôn với anh Huỳnh Văn Ng2.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Phương Th, sinh ngày 20/3/2007, cho chị Ng Thị Ánh Ng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Huỳnh Chí Ng3, sinh ngày 31/10/2009, cho anh Huỳnh Văn Ng2 trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu nên không xem xét.

Cháu Th có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.

Cháu Ng3 có nguyện vọng ở với cha sau khi cha mẹ ly hôn.

ChịNg, anh Ng2 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí sơ thẩm: Chị Ng Thị Ánh Ng phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0002217 ngày 06 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Ng3 Thị ÁnhNg, anh Huỳnh Văn Ng2 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung./.

Cỡ chữ