vanban.org

Bản án 300/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 08 (tám) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng K phạm tội "Chiếm giữ trái phép tài sản" - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 141 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 176 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2023/HS-PT
Ngày 24 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ;

Ông Nguyễn Trung Hưng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 295/2023/HS-PT ngày 20 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Trần Đăng Khoa.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2023/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Đăng K, sinh năm: 1985, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp 1, xã PĐ, huyện TP, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Đức H – 1956 và bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); Vợ: Đã ly hôn; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại.

(Có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có bị hại ông Nguyễn Hiếu T không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Nguyễn Hiếu T là chủ Cửa hàng điện máy “Kim Lành” thuộc khu 6 thị trấn TP, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Cửa hàng điện máy “Kim Lành” có mở thêm dịch vụ chuyển tiền.

Vào lúc 09 giờ 47 phút ngày 16/9/2022, ông T có nhận chuyển tiền cho ông Trần Đức H với số tiền 10.000.000đ chuyển cho con trai ông H là Trần Đăng K. Ông T đã sử dụng số tài khoản 19035158114010 của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) do ông T làm chủ tài khoản để chuyển tiền đến số tài khoản 060037241884 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) do Trần Đăng K làm chủ tài khoản với nội dung “Ba chuyển”.

Sau khi chuyển tiền xong, ông T kiểm tra lại thì phát hiện đã chuyển cho K 100.000.000đ, chuyển dư 90.000.000đ so với yêu cầu chuyển tiền của ông H. Ông T nhắn tin cho K xin lại 90.000.000đ đã chuyển nhầm và sau đó đã liên hệ để yêu cầu K trả lại số tiền trên nhưng không được K trả lại. Nên đến ngày 28/12/2022, ông Nguyễn Hiếu T đã làm đơn tố cáo hành vi của Trần Đăng K.

Tại Cơ quan điều tra Trần Đăng K khai nhận: Vào ngày 16/9/2022, sau khi được ông Trần Đức H chuyển tiền, K kiểm tra tài khoản thấy số tiền chuyển đến là 100.000.000đ từ số tài khoản 19035158114010 thuộc Ngân hàng Techcombank do ông Nguyễn Hiếu T làm chủ tài khoản với nội dung “Ba chuyển” thì K biết là người chuyển tiền đã chuyển nhầm 90.000.000đ vì ngày 15/9/2022 K có gọi điện cho ông H xin 10.000.000đ thì được ông H đồng ý và ông H cũng đã gọi điện báo cho K về việc chuyển cho K 10.000.000đ.

Lúc 11 giờ 49 phút ngày 16/9/2022, K nhận được tin nhắn với nội dung xin lại số tiền chuyển nhầm 90.000.000đ từ số tài khoản 19035158114010 thuộc Ngân hàng Techcombank do ông Nguyễn Hiếu T làm chủ tài khoản. Nhưng do kẹt tiền nên K không trả lại số tiền trên và đã nhiều lần rút hết số tiền trên tiêu xài cá nhân. Lời khai của Trần Đăng K phù hợp với lời khai của ông T và bản sao kê tài khoản của Trần Đăng K do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – Phòng giao dịch Phương Lâm cung cấp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 176; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự;

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đăng K 08 (tám) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/6/2023, bị cáo Trẩn Đăng K có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Trần Đăng K tại phiên tòa phúc thẩm, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện TP.

Bị cáo Trần Đăng K không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa bị cáo dẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy.

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Đăng K xin được hưởng án treo, nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào mới so với phiên tòa sơ thẩm.

Hội đồng xét xử xét thấy, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt, đang nuôi con chưa thành niên để áp dụng điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử bị cáo với mức án 08 (tám) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí: Bị cáo Trần Đăng K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đăng K và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ khoản 1 Điều 176; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 08 (tám) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải thi hành án phạt tù.

2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Đăng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thanh Sỹ - Nguyễn Trung Hưng

Võ Văn Toàn

Cỡ chữ