vanban.org

Bản án 300/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 300/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2023
Về việc “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Mai

2. Ông Vũ Trung Kiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1112/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Phương Q, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 162L/13 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Vũ Quốc H, sinh năm 1974.

Địa chỉ: 162L/13 Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, Nguyên đơn bà Hoàng Phương Q trình bày: Bà Hoàng Phương Q và ông Vũ Quốc H tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 21/06/2004 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113/2004, quyển số 01/P12. Quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Ông H không quan tâm đến gia đình, không cùng bà Q chăm sóc con chung. Từ năm 2020 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau. Nay, bà Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng hàn gắn không có nên yêu cầu được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà Q và ông H có 02 con chung là Vũ Hoàng Phương T, sinh ngày 25/04/2005 và Vũ Hoàng Thùy N, sinh ngày 19/01/2009. Ly hôn, bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q khai không có.

Bị đơn ông Vũ Quốc H vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án triệu tập đến làm việc, hòa giải và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn bà Hoàng Phương Q trình bày: Bà Q vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Quốc H, vì tình cảm dành cho ông H không còn, vợ chồng không có sự thương yêu, chia sẻ dành cho nhau.

Về con chung: Bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung tên Vũ Hoàng Phương T, sinh ngày 25/04/2005 và Vũ Hoàng Thùy N, sinh ngày 19/01/2009, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn, ông Vũ Quốc H vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật

tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu

của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại

phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Pháp luật về tố tụng: Bà Hoàng Phương Q có đơn khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn ông Vũ Quốc H, ông H có địa chỉ cư trú tại quận Tân Bình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 113/2004, quyển số 01/P12 do Ủy ban nhân dân Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/06/2004 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Phương Q và ông Vũ Quốc H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Bị đơn ông Vũ Quốc H đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần thứ hai

nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Pháp luật về nội dung:

Xét yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung của bà Hoàng Phương Q, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Hạnh phúc gia đình được xây dựng và vun đắp dựa trên tình yêu thương,

sự tôn trọng và chia sẻ của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, qua trình bày của bà Q thể hiện giữa bà Q và ông H không có sự thấu hiểu để cùng nhau chăm lo gia đình và các con. Bà Q xác định tình cảm dành cho ông H không còn. Từ năm 2020 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông H đến làm việc nhưng ông H vẫn vắng mặt không rõ lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Q. Như vậy, chứng tỏ ông H cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình. Do đó, mâu thuẫn giữa bà Q và ông H đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q là phù hợp quy định pháp luật.

Về con chung: Bà Q yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Vũ Hoàng Phương T, sinh ngày 25/04/2005 và Vũ Hoàng Thùy N, sinh ngày 19/01/2009, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Ông H không trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của bà Q. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, phát triển, chăm sóc, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà Q và cũng phù hợp nguyện vọng của trẻ Phương T và Thùy N về việc muốn được sinh sống cùng mẹ. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H do bà Q không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Q phải chịu là

300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 186, khoản 2 Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia

đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Phương Q:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Phương Q được ly hôn với ông Vũ Quốc H.

- Về con chung: Giao 02 con chung là Vũ Hoàng Phương T, sinh ngày 25/04/2005 và Vũ Hoàng Thùy N, sinh ngày 19/01/2009 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông H do bà Q không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở

người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân sơ thẩm bà Hoàng Phương Q phải chịu án phí sơ thẩm là

300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí do bà Q đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0032429 ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Hoàng Phương Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Ông Vũ Quốc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật

thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Cỡ chữ