vanban.org

Bản án 300/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo: Võ Thanh L, Trần M, Ngô Hoài T, Lê Quốc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thanh L và đp - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 300/2022/HS-ST
Ngày: 18 – 11 – 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Thu;

Bà Trần Kim Thoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 313/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Võ Thanh L, sinh năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Số 20 khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con bà Võ Bích P (không rõ tên cha); Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án số 55/2010/HSST ngày 17/3/2010 của Toà án nhân dân huyện (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương đã xử phạt 14 (mười bốn) tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Bản án số 55/2010/HSST ngày 19/3/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Giết người”; tổng hợp hình phạt với bản án số 55/2010/HSST buộc Võ Thanh L chấp hành 09 (chín) năm 02 (hai) tháng. Chấp hành xong ngày 28/4/2016; Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 08/9/2017 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dương đến ngày 08/9/2019.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2022 cho đến nay. Có mặt.

2. Trần M, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 184B khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Trần Quang H và bà Phạm Thu H; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 11/11/2016, bị Công an phường L quyết định xử phạt 450.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 19/12/2016 bị Công an phường L quyết định xử phạt 600.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2021 cho đến nay. Có mặt.

3. Ngô Hoài T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Số 184 khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Sửa xe; Con ông Ngô Văn H và bà Phạm Như T; có vợ Danh Thị M K và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 25/5/2014 bị Công an phường H quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 11/12/2014 bị Công an phường H quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 08/02/2021 bị UBND phường H quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2021 cho đến nay. Có mặt.

4. Lê Quốc T, sinh năm 1993 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị C; có vợ Nguyễn Thị Lệ H và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2021cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1988 tại Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố H 1, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt;

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959 tại Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố H 1, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt;

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau, có mặt;

+ Bà Nguyễn Thị Kim Đ, sinh năm 1998, trú tại: khu phố B 2, phường B, thành phố T, Bình Dương, có đơn yêu cầu vắng mặt;

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1987, trú tại: khu phố B 2, phường B, thành phố T, Bình Dương, có đơn yêu cầu vắng mặt;

+ Ông Phan Hoàng Minh T, sinh năm 1993, trú tại: 615/3, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Trần Thị Ngọc T, bà Nguyễn Thị Kim Pg, bà Nguyễn Thị D. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/11/2021, Võ Thanh L điều khiển xe môtô hiệu Suzuki Satria biển số 61C2-021.05 lưu thông trên tuyến đường T 29 theo hướng từ Văn phòng khu phố B về hướng đường B 40. Khi L đi ngang qua nhà của Nguyễn Văn P, lúc này P đang ngồi nhậu với bạn là Nguyễn Văn Đ nghe thấy xe mô tô của L điều khiển nẹt bô tiếng lớn nên P đứng trong nhà nói “mai mốt tháo cái bô ra nha mày”, L vẫn tiếp tục nẹt bô nên P dùng xe mô tô biển số 61C2 - 359.95 chở theo con trai là Nguyễn Phúc V, sinh ngày 05/12/2007 đuổi theo đánh L nhưng được nên quay về.

Sau khi bị P đuổi đánh, L về rủ Trần M, Lê Quốc T quay lại đánh P trả thù. L cầm 01 cây dao tự chế, 01 cây tuýp bằng kim loại, M cầm 01 cây gậy đánh bóng chày, T điều khiển xe môtô biển số 61C2-021.05 chở L, M điều khiển xe môtô biển số 61B1-665.85, khi đi đến cách nhà P khoảng 10m thì cả 03 dừng xe lại, xuống xe đi bộ đến trước nhà của P. L cầm theo dao tự chế, T cầm theo ống tuýp sắt, M cầm theo gậy bóng chày xông vào tính đánh P, P chạy vào nhà kéo cửa lưới B40 lại. Lúc này, Ngô Hoài T đang chơi đá bóng gần nhà của P thấy nhóm của L tới đánh P thì T chạy tới hỗ trợ nhóm của L đánh P (T là bạn bè với L, T và là em họ của Trần M). Do P chạy vào nhà nên L, T, M, Thương dùng gạch, đá ném vào nhà P. Bị nhóm của L ném gạch, đá vào nhà, P trong nhà cầm dao hô to “chém chết mẹ tụi nó” thì Nguyễn Văn Đ (cha của P) cầm 01 cây gỗ vuông dài 1,5m; Nguyễn Văn Đ cầm 01 con dao tự chế, V cầm 01 ống tuýp inox rượt đuổi theo nhóm của L. Khi P rượt, đuổi đến khu vực trước cổng nhà thì bị trượt chân té ngã thì L dùng dao tự chế chém trúng cánh tay trái và đầu gối chân trái của P, Nguyễn Văn Đ cầm cây gỗ chạy tới đánh 01 cái vào vùng đầu và 01 cái vào tay trái của L gây thương tích. Lúc này, P cầm dao, Nguyễn Văn Đ (cha của P) cầm cây gỗ, Nguyễn Văn Đ (bạn của P) cầm dao tự chế, V cầm ống tuýp inox tiếp tục rượt đánh nhóm của L trên đường T 29 làm L, T, M, T bỏ bộ chạy khỏi hiện trường.

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 120/2022/GĐPY ngày 24/02/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Võ Thanh L bị vết thương vùng đầu đỉnh trái 3,5 x 0,2cm, sẹo lành; vết thương gãy kín nền xương bàn IV bàn tay trái, cal gồ xấu; vết thương xước da mặt sau cánh tay trái 0,7 x 0,2cm, lành da. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%.

Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 121/2022/GĐPY ngày 24/02/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyễn Văn P bị vết thương mặt trước 1/3 trên cánh tay trái 8,5 x 1cm, sẹo lành; vết thương mặt trước gối trái 3,2 x 0,5cm, lành da. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05%.

Bản Cáo trạng số 302/CT-VKS -TA ngày 16/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo:

Võ Thanh L, Trần M, Ngô Hoài T, Lê Quốc T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo: Võ Thanh L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Trần M, Ngô Hoài T mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Lê Quốc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy bằng kim loại màu đỏ (kiểu gậy bóng chày) dài 80cm; 01 con dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 80cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 39cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán nhựa dài 30cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng, cán gỗ dài 70cm (có vỏ nhựa màu đen); 01 thanh gỗ dài 160cm, bản rộng 07cm (một đầu bị vỡ)

Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 xe môtô Suzuki biển số 61C2 – 021.05.

- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến, yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận của các bị cáo Võ Thanh L, Trần M, Ngô Hoài T, Lê Quốc T tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/11/2021, tại đoạn đường Thuận Giao 29, khu phố B, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Võ Thanh L, Trần M, Ngô Hoài T và Lê Quốc T sử dụng gạch, đá, cây tuýp bằng kim loại, dao rồi rượt đuổi, đánh nhau, ném vào nhà của nhóm Nguyễn Văn P, sinh năm 1988, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì mâu thuẫn với nhau, các bị cáo la hét, sử dụng hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhau trên đường, ném vào nhà người khác gây mất trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh, hoạt động bình thường ở nơi công cộng, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể. Tuy nhiên, bị cáo L là người chuẩn bị hung khí, khởi xướng, rủ rê, thể hiện vai trò cao hơn nên phải chịu mức án cao hơn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Các bị cáo L, M và T có nhân thân xấu, bị cáo L từng bị Tòa án xử phạt, các bị cáo M và T từng bị cơ quan Nhà nước xử phạt hành chính, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội cao hơn nên cần có mức án cao hơn.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Đối với hành vi của bị cáo L dùng dao tự chế chém Nguyễn Văn P, ông P không yêu cầu xử lý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý.

Đối với hành vi của Nguyễn Văn P, sinh năm 1988, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1959, Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994 gây thương tích cho Võ Thanh L đã được xử lý theo Bản án số 299/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:

01 gậy bằng kim loại màu đỏ (kiểu gậy bóng chày) dài 80cm; 01 con dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 80cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 39cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán nhựa dài 30cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng, cán gỗ dài 70cm (có vỏ nhựa màu đen); 01 thanh gỗ dài 160cm, bản rộng 07cm (một đầu bị vỡ) là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki biển số 61C2–021.05 của bị cáo L sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 61B1 – 665.85 của ông Nguyễn Văn Đ mua của ông Phan Hoàng Minh T. Ông Đ cho em gái là bà Nguyễn Thị Kim Đ sử dụng. Bà Đ cho bị cáo M mượn, không biết bị cáo M sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Điều tra đã trả lại xe này cho chủ sở hữu.

01 USB màu trắng 8GB bên trong chứa dữ liệu đoạn video ghi lại diễn biến nội dung vụ việc đã lưu hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo: Võ Thanh L, Trần M, Ngô Hoài T, Lê Quốc T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Mức hình phạt:

1.1 Xử phạt bị cáo Võ Thanh L 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2021.

1.2 Xử phạt bị cáo Trần M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2021.

1.3 Xử phạt bị cáo Ngô Hoài T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2021.

1.4 Xử phạt bị cáo Lê Quốc T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2021.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gậy bằng kim loại màu đỏ (kiểu gậy bóng chày) dài 80cm; 01 con dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 80cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 39cm; 01 con dao bằng kim loại màu đen, cán nhựa dài 30cm; 01 con dao bằng kim loại màu trắng, cán gỗ dài 70cm (có vỏ nhựa màu đen); 01 thanh gỗ dài 160cm, bản rộng 07cm (một đầu bị vỡ).

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 xe môtô nhãn hiệu Suzuki, loại Satria, màu sơn: Trắng, đen, xanh, số máy: CGA1ID222344, số khung: 11AZIJ222296, gắn biển số 61C2–021.05 (tình trạng xe: Không có gương chiếu hậu, không có chìa khóa xe).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/7/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ