- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Viết T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số 300/2017/HSST Ngày 18/8/2017 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố TN.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPTN tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Huyền, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 277/2017/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:
Phạm Viết T, tên gọi khác: không; sinh ngày 06 tháng 10 năm 1985; ĐKHKTT: Xóm ĐL2, xã ĐM, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; dân tộc: Tày; nghề nghiệp: làm ruộng; văn hoá: 7/12; con ông: Phạm Viết V và bà Ma Thị Th; có vợ Ma Thị H; có hai con chung; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2017 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY
Bị cáo Phạm Viết T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố về hành vi phạm tội như sau:
H i 10 gi ngày 07/6/2017, T công tác c a đội C nh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực Bến xe khách TN c thuộc t 17, phư ng QT, thành phố TN, phát hiện, bắt qu tang, thu giữ trong lòng bàn tay ph i c a Phạm Viết T, sinh năm: 1985; Trú quán: xóm ĐL 2, xã ĐM, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên 01 gói nh gói b ng gi y màu trắng bên trong gói b ng gi y màu vàng có chứa ch t bột màu trắng T khai là Hêrôin . T công tác đ tiến hành l p biên b n bắt ngư i phạm tội qu tang, thu giữ và niêm phong v t chứng theo quy định.
H i 16 gi 00 phút c ng ngày, Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành m niêm phong, cân xác định trọng lượng số ch t bột màu trắng thu giữ c a T có trọng lượng không bì là 0,120 gam, l y toàn bộ để gửi giám định theo quy định.
Tại Kết lu n giám định số 736/KL – PC54 ngày 15/6/2017 c a Phòng k thu t hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết lu n: Ch t bột màu trắng thu giữ c a Phạm Viết T là ch t ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng khối lượng : 0,120 gam. Hoàn lại mẫu giám định ký hiệu A2.
Tại Cơ quan điều tra Phạm Viết T khai nh n: T là đối tượng nghiện ma túy, ngày 04/6/2017, T điều khiển xe mô tô BKS: 20C1 – 20091, là xe c a vợ ch ng bị cáo từ nhà xuống khu vực Bến xe khách TN c , đến sáng ngày 06/6/2017 do không có tiền sử dụng ma túy, T đ mang chiếc xe mô tô nêu trên đi cắm tại một cửa hiệu cầm đ khu vực bến xe, nhưng không nhớ cụ thể tên hiệu cầm đ , được số tiền 1.400.000 đ ng. Sau đó, T đ sử dụng số tiền đó để ăn tiêu và mua ma túy Hêrôin để sử dụng cho b n thân. Đến kho ng 10 gi ngày 07/6/2017, T lại tiếp tục đến khu vực Bến xe khách TN để tìm mua ma túy sử dụng. T gặp và mua được c a một ngư i đàn ông không quen biết 01 gói Hêrôin với giá 100.000 đ ng. Sau khi mua xong, T cầm gói Hêrôin trong lòng bàn tay ph i, đi tìm nơi sử dụng thì bị T công tác c a Công an TPTN phát hiện bắt qu tang, thu giữ, niêm phong v t chứng như nêu trên.
V t chứng c a vụ án g m: 01 bì niêm phong ký hiệu A2, đang b o qu n tại Chi cục thi hành án dân sự TPTN.
Tại b n cáo trạng số 290/KSĐT-MT ngày 13/7/2017 Viện kiểm sát nhân dân TPTN đ quyết định truy tố Phạm Viết T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo kho n 1 Điều 194 Bộ lu t hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Phạm Viết T khai nh n toàn bộ hành vi đúng như l i khai tại cơ quan điều tra và b n cáo trạng mô t .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPTN giữ nguyên b n cáo trạng số 290/KSĐT-MT ngày 13/7/2017, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Đề nghị áp dụng kho n 1 Điều 194, điểm p kho n 1 Điều 46, Điều 33 Bộ lu t hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ lu t hình sự năm 2015 đ được sửa đ i, b sung một số điều theo Lu t số 12/2017/QH14, kho n 3 Điều 7, điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Phạm Viết T từ 24 đến 30 tháng tù; miễn hình phạt b sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;Áp dụng Điều 41 Bộ lu t hình sự, Điều 76 Bộ Lu t tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu h y phong bì niêm phong ký hiệu A2; Bị cáo ph i chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.
Trong phần tranh lu n, bị cáo không có ý kiến tranh lu n với đại diện viện kiểm sát, bị cáo xin được hư ng mức án th p nh t.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đ được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ s xem xét đầy đ , toàn diện chứng cứ, ý kiến c a Kiểm sát viên, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
L i nh n tội c a bị cáo tại phiên toà ph hợp với l i khai c a bị cáo tại cơ quan điều tra, ph hợp với l i khai c a ngư i làm chứng, với v t chứng đ thu được, Kết lu n giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu th p hợp lệ có trong h sơ vụ án. Hội đ ng xét xử đ có đ căn cứ xác định: Phạm Viết T đ có hành vi mua 0,120 gam heroin mục đích để sử dụng. Hành vi c a bị cáo đ yếu tố c u thành tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma tuý” theo kho n 1 Điều 194 Bộ lu t hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân TPTN truy tố Phạm Viết T về tội “ Tàng trữ trái phép ch t ma tuý” theo b n cáo trạng số 290/KSĐT-MT ngày 13/7/2017 là có căn cứ. Do đó, bị cáo ph i chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội c a mình.
Hành vi c a bị cáo xâm phạm đến quy định c a Nhà nước về chế độ qu n lý các ch t ma tuý, gây m t an ninh tr t tự tại địa phương.
Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự th y bị cáo được hư ng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm p kho n 1 Điều 46 Bộ lu t hình sự và không ph i chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 Bộ lu t hình sự.
Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ lu t hình sự năm 2015 đ được sửa đ i, b sung một số điều theo Lu t số 12/2017/QH14 c a Quốc hội quy định: “Các điều kho n c a Bộ lu t Hình sự năm 2015 xóa b một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng…..và các quy định khác có lợi cho ngư i phạm tội thì được áp dụng đối với c những hành vi phạm tội x y ra trước 0 gi 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau th i điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử …”
Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” quy định tại kho n 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nh t là 5 năm t , nhẹ hơn mức hình phạt cao nh t là 7 năm t quy định tại kho n 1 Điều 194 Bộ lu t hình sự năm 1999. Vì v y, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hội đ ng xét xử xét th y, cần áp dụng hình phạt t đối với bị cáo để c i tạo, giáo dục bị cáo và răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét th y bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nên xét gi m cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan h ng c a pháp lu t. Mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị là ph hợp.
Về hình phạt b sung, xét th y bị cáo là ngư i nghiện, theo biên b n xác minh c a cơ quan điều tra bị cáo không có tài s n riêng, nên miễn áp dụng hình phạt b sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về v t chứng c a vụ án: Cần áp dụng Điều 41 Bộ lu t hình sự, Điều 76 Bộ lu t tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu h y phong bì niêm phong bên trong chứa Hê rô in thu giữ c a T còn lại sau giám định ký hiệu A2;
Bị cáo ph i chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định c a pháp lu t.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Viết T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng kho n 1 Điều 194; điểm p kho n 1 Điều 46, Điều 33 Bộ lu t hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ lu t hình sự năm 2015 đ được sửa đ i, b sung một số điều theo Lu t số 12/2017/QH14, kho n 3 Điều 7, điểm c kho n 1 Điều 249 Bộ lu t hình sự năm 2015;
Xử phạt Phạm Viết T 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2017.
Áp dụng Điều 228Bộ lu t Tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Phạm Viết T 45 Bốn mươi năm ngày kể từ ngày tuyên án để đ m b o việc thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt b sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ lu t hình sự, Điều 76 Bộ lu t Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu h y phong bì niêm phong ký hiệu A2. Hiện v t chứng đang lưu giữ tại kho c a Chi cục thi hành án dân sự TPTN theo biên b n giao nh n ngày 14/7/2017).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ lu t tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 c a UBTVQH 14 buộc bị cáo Phạm Viết T ph i chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Quý Sửu |