vanban.org

Bản án 300/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 17/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Công T phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 300/2017/HS-ST
Ngày 17-11-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Bà Trần Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 304/2017/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 310/2017/HSST-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Đỗ Công T, sinh năm 1990 tại tỉnh Kiên Giang; thƣờng trú: Xóm K, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số 60F/11, tổ 16, khu phố 6, phƣờng H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Đỗ Phƣớc N, sinh năm 1962 và bà Thị T, sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Ngƣời bị hại: Anh Trịnh Văn D (đã chết).

Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại: Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1970 và bà Cao Thị C, sinh năm 1973; cùng thƣờng trú: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ông T, bà C ủy quyền cho ông Trịnh Văn H, sinh năm 1995; thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (văn bản ủy quyền ngày 30/11/2016). Có mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A; trụ sở: Số 681/15, H, Phƣờng 11, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Lê Phƣơng T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 36, lầu 2 K, Phƣờng 11, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/11/2016). Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Trịnh Văn T, sinh năm 1970 và bà Cao Thị C, sinh năm 1973; cùng thƣờng trú: Xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ông T, bà C ủy quyền cho ông Trịnh Văn H, sinh năm 1995; thƣờng trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (văn bản ủy quyền ngày 30/11/2016). Có mặt.

2/ Ông Nguyễn Tiến Q, sinh năm 1977; thƣờng trú: Số 17, đƣờng số 9, khu phố 5, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người làm chứng: Bà Cao Thị L, sinh năm 1984; thƣờng trú: Số 17, đƣờng số 9, khu phố 5, phƣờng L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đỗ Công T đã có giấy phép lái xe số 790138423766 hạng FC do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/5/2016 và là lái xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18/11/2016, Đỗ Công T điều khiển xe ô tô đầu kéo hiệu Dong Feng biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90 đến cảng Tân Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh lấy thép cuộn để giao cho Công ty TNHH thép Vina Tafon ở phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, Đỗ Công T điều khiển xe lƣu thông trên đƣờng ĐT 743 hƣớng từ Ngã ba Cây Điệp về Ngã tƣ Bình Thung để giao hàng. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Đỗ Công T điều khiển xe ô tô đầu kéo lấn sang phần đƣờng ngƣợc chiều bên trái đụng vào xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 59X3-012.73 do anh Trịnh Văn D điều khiển phía sau chở sọt thịt bò đang lƣu thông theo chiều ngƣợc lại. Sau tai nạn, xe ô tô đầu kéo do Đỗ Công T điều khiển sang phần đƣờng bên phải cách điểm gây tai nạn khoảng 22 mét. Hậu quả của vụ tai nạn làm anh Trịnh Văn D chết khi đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng, xe mô tô biển số 59X3-012.73 và phần đầu xe ô tô đầu kéo bị hỏng.

Theo kết luận giám định pháp y tử thi số 3254/GĐPY ngày 20/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

1/ Dấu hiệu chính qua giám định:

Các dấu hiệu chính khi khám nghiệm:

- Tụ máu màng mềm bán cầu đại não phải và trái;

- Tụ máu màng mềm tiểu não hai bên;

- Tụ máu vùng cầu não;

- Tụ máu màng mềm lều tiểu não hai bên.

2/ Nguyên nhân chết của nạn nhân là do chấn thƣơng sọ não, xuất huyết não, dập não.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 18/11/2016 thể hiện: Đoạn đƣờng xảy ra tai nạn là đoạn đƣờng thẳng, đƣợc trải nhựa bằng phẳng có hƣớng đi từ Ngã tƣ Bình Thung về Ngã ba Cây Điệp và ngƣợc lại, thời điểm xảy ra tai nạn hệ thống đèn đƣờng chiếu sáng đang hoạt động. Đƣờng có vạch sơn nối liền, chia làm hai phần đƣờng, mỗi phần đƣờng có 02 làn xe lƣu thông, làn xe ô tô rộng 3,90 mét, làn xe mô tô rộng 2,30 mét. Điểm xảy ra tai nạn là phần đƣờng bên phải hƣớng từ Ngã tƣ Bình Thung về Ngã ba Cây Điệp.

Lấy mép lề đƣờng bên phải hƣớng từ Ngã tƣ Bình Thung về Ngã ba Cây Điệp làm hƣớng đo chuẩn; lấy trụ đèn điện số 65 làm điểm mốc cố định:

- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90, sau tai nạn xe đậu ở phần đƣờng bên trái, đầu xe hƣớng thẳng về Ngã tƣ Bình Thung. Trục bánh xe trƣớc bên trái cách vào mép chuẩn 9,60 mét; trục bánh xe sau bên trái cách vào mép chuẩn 9,60 mét; trục bánh bên trái rơ mooc cách vào mép chuẩn 9,10 mét cách trục bánh trƣớc xe mô tô biển số 59X3-012.73 là 22,20 mét.

- Xe mô tô biển số 59X3-012.73 sau tai nạn xe ngã nghiêng bên trái, đầu xe hƣớng xéo vào vạch sơn phân cách phần đƣờng. Trục bánh xe trƣớc cách vào mép lề chuẩn 2,30 mét; trục bánh xe sau cách vào mép lề chuẩn 1,50 mét; trục bánh trƣớc cách điểm mốc cố định là 8,30 mét cách trục bánh bên trái xe rơ mooc là 22,20 mét. Xe mô tô để lại vết cày hình gấp khúc, đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 3,80 mét, từ đầu vết cày đến điểm gấp khúc của vết cày là 3,20 mét; khoảng cách từ điểm gấp khúc vết cày đến xe mô tô là 1,70 mét.

Sát vị trí xe mô tô có nhiều thịt bò rơi trên mặt đƣờng.

Theo biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 22/11/2016 thể hiện:

- Xe mô tô biển số 59X3-012.73 để lại các dấu vết sau: Toàn bộ phần đầu xe gồm mặt nạ chắn gió trƣớc, mặt nạ tay cầm xe (trƣớc và sau), đèn pha, đèn tín hiệu, đồng hồ tốc độ bị bể nát, rời khỏi xe. Yếm chắn gió bên trái, phải phía trƣớc bị bể gãy nhiều phần có dấu vết trƣợt theo hƣớng từ trƣớc ra sau, dính vết sơn màu đỏ; cổ xe bị gãy cong theo hƣớng từ trƣớc ra sau.

- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90 để lại các dấu vết: Phần cản trƣớc bị móp méo, lún vào trong theo hƣớng từ trƣớc ra sau. Tâm vết lún có nhiều vết trầy xƣớc, tróc sơn cách đèn tín hiệu trƣớc bên trái 56cm, cách mặt đất 57cm. Phần mặt nạ trƣớc bị móp méo, biến dạng lún vào trong, kích thƣớc 140 cm x 75 cm, tấm lƣới chắn gió của mặt nạ bị gãy rời khỏi xe.

Trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A đã bồi thƣờng chi phí mai táng 45.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 65.000.000 đồng cho gia đình ngƣời bị hại. Xe mô tô của anh Nguyễn Tiến Q bị hỏng nhƣng anh Q không yêu cầu bồi thƣờng.

Vật chứng: Xe mô tô biển số 59X3-012.73, xe ô tô đầu kéo biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y tử thi số 3254/GĐPY ngày 20/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan trong vụ án.

Tại Cáo trạng số 292/QĐ - KSĐT ngày 02 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đỗ Công T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về phần yêu cầu bồi thƣờng thêm tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi nhƣ cáo trạng truy tố, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại rút đơn xin bãi nại cho bị cáo tại cơ quan điều tra đồng thời yêu cầu bị cáo bồi thƣờng thêm tổn thất tinh thần cho gia đình ngƣời bị hại 50.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, bị đơn dân sự, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18/11/2016, tại đoạn đƣờng thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Đỗ Công T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90 lƣu thông theo hƣớng từ Ngã ba Cây Điệp đến Ngã tƣ Bình Thung. Khi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố Đ, phƣờng T, T điều khiển xe lấn sang phần đƣờng ngƣợc chiều bên trái đụng vào xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 59X3-012.73 do anh Trịnh Văn D điều khiển phía sau chở sọt thịt bò đang lƣu thông theo chiều ngƣợc lại gây tai nạn làm anh D chết khi đi cấp cứu (căn cứ kết luận giám định pháp y tử thi số 3254/GĐPY ngày 20/11/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng thì nguyên nhân chết của nạn nhân là do chấn thƣơng sọ não, xuất huyết não, dập não). Theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đƣờng bộ năm 2008 thì “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”. Hành vi của bị cáo điều khiển xe lấn sang trái trên đoạn đƣờng có vạch liền là đoạn đƣờng cấm lấn sang gây tai nạn với xe mô tô đi ngƣợc chiều làm ngƣời bị hại chết đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 292/QĐ - KSĐT ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đƣờng bộ, gây thiệt hại về tính mạng của ngƣời tham gia giao thông. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, đã đƣợc trải qua khóa học về các quy định an toàn khi tham gia giao thông, hơn ai hết bị cáo phải nhận thức rõ trên đoạn đƣờng có vạch liền là không đƣợc điều khiển xe đè lên vạch hoặc vƣợt quá và phải đi đúng theo phần đƣờng, làn đƣờng của mình. Hiện nay tình hình vi phạm giao thông đƣờng bộ trên địa bàn thị xã D diễn biến phức tạp, các vụ tai nạn xảy ra phần lớn là do ngƣời điều khiển phƣơng tiện giao thông không chấp hành đúng quy định của luật giao thông đƣờng bộ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt tƣơng xứng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nhƣng chƣa thể hiện rõ sự ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động để Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A bồi thƣờng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho ngƣời bị hại.

Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động làm thuê có nhân thân tốt thể hiện chƣa có tiền án, tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A đã bồi thƣờng chi phí mai táng 45.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 65.000.000 đồng cho gia đình ngƣời bị hại. Tại phiên tòa, đại diện ngƣời bị hại yêu cầu bồi thƣờng thêm tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng. Xét tại cơ quan điều tra các bên đã thỏa thuận bồi thƣờng 65.000.000 đồng tổn thất tinh thần, theo quy định tại Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 mức bồi thƣờng tổn thất tinh thần tối đa là 100 tháng lƣơng cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của đại diện ngƣời bị hại với 70 tháng lƣơng cơ sở là 91.700.000 đồng để giảm thiểu một phần mất mát đau thƣơng cho gia đình ngƣời bị hại, các bên đã bồi thƣờng 65.000.000 đồng, nên cần buộc bị cáo bồi thƣờng thêm tổn thất tinh thần cho ngƣời bị hại là 26.700.000 đồng.

Vật chứng: Xe mô tô biển số 59X3-012.73 bị hỏng đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến Q, anh Q không yêu cầu bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử không xem xét; đối với xe ô tô đầu kéo biển số 51C-144.74 kéo theo rơ mooc biển số 51R-163.90, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A.

Đối với mức hình phạt nhƣ đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Công T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Công T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự 2015.

Buộc bị cáo Đỗ Công T bồi thƣờng tổn thất tinh thần cho ông Trịnh Văn T và bà Cao Thị Ct là 26.700.000 (hai mƣơi sáu triệu bảy trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày ông Trịnh Văn T và bà Cao Thị C có yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả cho ông Trịnh Văn T và bà Cao Thị C khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Công T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.335.000 (một triệu ba trăm ba mƣơi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn dân sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ