vanban.org

Bản án 30

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Văn Minh và đồng bọn - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
tßA ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ C P
TØNH Q N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 30/2021/HS -ST

Ngµy: 29 - 3 - 2021

nh©n danh

n íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Tßa ¸n nh©n d©n THÀNH PHỐ C P , tØnh Q N

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn tòa: Bà TTT.

- Các Héi thÈm nh©n d©n:

1. Ông: NVT - Cán bộ nghỉ hưu.

2. Bà: NTH - Cán bộ nghỉ hưu.

- Th ký phiªn tòa: Bà VTL - Thư ký Tòa ¸n nh©n d©n thành phố CP.

- §¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố CP tham gia phiªn toµ: Ông TXV - KiÓm s¸t viªn.

Trong ngµy 29/3/2021 t¹i Héi tr êng xÐt xö Toµ ¸n nh©n d©n thành phố CP, tØnh Q N, ® a ra xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè 01/2021/TLST-HS ngµy 04/01/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXX-HS ngày 14/01/2021, Thông báo thay đổi thời gian xét xử ngày 28/02/2021 và ngày 16/3/2021 ®èi víi các bÞ c¸o:

1. Hä vµ tªn: TVM - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 03/9/1969, tại huyện VT, tỉnh TB.

N¬i cư trú: Tổ 4, khu 5 , phường CT, thành phố CP, tØnh QN.

Quèc tÞch: ViÖt Nam;

D©n téc: Kinh ; T«n gi¸o: Kh«ng.

Tr×nh ®é học vấn: 10/10.

NghÒ nghiÖp: Lao động tự do.

Đoàn thể: Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 23/9/2020.

Con «ng TVS, sinh năm 1931 (đã chết); Con bµ T T C , sinh năm 1945.

Vợ: N T T T , sinh năm 1973; Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2003.

TiÒn ¸n, tiền sự: Không.

BÞ cáo đầu thú ngµy 31/8/2020, bị tạm giữ, tạm giam đến ngày 13/11/2020, thay thế áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Hä vµ tªn: NVP - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 04/01/1983, tại huyện QP, tỉnh TB.

N¬i cư trú: Tổ 1, khu ST, phường CT, thành phố CP, tØnh QN.

Quèc tÞch: ViÖt Nam;

D©n téc: Kinh; T«n gi¸o: Kh«ng.

Tr×nh ®é học vấn: 9/12.

NghÒ nghiÖp: Công nhân Công ty Cổ phần Vận tải và đưa đón Thợ mỏ.

Con «ng N Đ H , sinh năm 1956; Con bµ P T B , sinh năm 1958.

Vợ: N T H , sinh năm 1983; Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012.

TiÒn ¸n, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/02/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố CP), tỉnh QN xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Bị hại: Xí nghiệp Vật tư CP - Chi nhánh Công ty Cổ phần vật tư -TKV (Viết tắt là Xí nghiệp Vật tư); Đại diện theo pháp luật: Ông P V H , chức vụ: Giám đốc Xí nghiệp vật tư CP; Đại diện theo ủy quyền: Ông N V T , chức vụ: Phó giám đốc Xí nghiệp vật tư CP.Trú tại: Tổ 4, khu 8, phường H H , thành phố H L , tỉnh QN. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh N N T , sinh năm 1985; Trú tại: Tổ 3, khu 1, phường Q H , thành phố CP, tỉnh QN. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Anh B X H . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: TVM là Trạm phó Trạm kinh doanh dầu Thống Nhất, Xí nghiệp Vật tư CP - Chi nhánh Công ty cổ phần vật tư - TKV (viết tắt là Xí nghiệp Vật tư). Trạm cấp dầu, mỡ nằm trong khuôn viên của các Phân xưởng thuộc Công ty cổ phần vận tải và đưa đón thợ mỏ Vinacomin (viết tắt là Công ty ĐĐTM) thuộc tổ 47, khu H S, phường C Đ , thành phố CP. Trạm kinh doanh dầu có nhiệm vụ nhập và cấp dầu diezen, dầu nhờn và mỡ máy cho Công ty ĐĐTM theo Hợp đồng ký kết giữa Xí nghiệp Vật tư với Công ty ĐĐTM. Minh được giao nhiệm vụ nhập hàng, quản lý và cấp phát dầu diezen, dầu nhờn và mỡ máy khi có phiếu xuất kho, phiếu bán dầu nhờn và mỡ máy của các Phân xưởng thuộc Công ty ĐĐTM (phiếu do Xí nghiệp Vật tư phát hành), đồng thời báo cáo số liệu xuất kho về Xí nghiệp Vật tư. Khi Xí nghiệp vật tư cấp phát dầu, mỡ nhập kho mỗi phuy dầu, mỡ đều được quét mã QR. Trạm làm việc 3 ca, mỗi ca có 01 người. Minh chuyên làm ca 01 và Minh trực tiếp nhập kho và cấp phát dầu nhờn, mỡ máy cho các phân xưởng của Công ty ĐĐTM. M quen biết với NVP là lái xe phân xưởng Vận tải 3 Công ty ĐĐTM ở cùng khuôn viên với Trạm cấp phát dầu.

Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2020, anh B X H là Quản đốc phân xưởng Vận tải 9, Công ty ĐĐTM có địa chỉ tại phường H L , thành phố H L , đến gặp và đưa trước cho M 15 phiếu bán dầu nhờn tháng 9/2020 (mỗi phiếu lĩnh với số lượng 10lít) có số sơ ri từ 485601 đến 485615 và 16 phiếu bán mỡ máy tháng 9/2020 (mỗi phiếu lĩnh với số lượng 05kg) có số sơ ri từ 42171 đến 42186, dầu nhờn, mỡ máy để phục vụ bảo dưỡng, thay dầu xe ô tô theo định kỳ. Anh H trao đổi với M việc anh H đưa phiếu trước sẽ lĩnh dầu, mỡ sau và lĩnh gộp một lần do ở xa điểm cấp, M đồng ý. Sau khi nhận số phiếu trên, M tính toán cộng với số lượng dầu, mỡ từ tháng 4/2020, M bớt lại khi cấp phát dồn lại để bán, nên nảy sinh ý định lấy 01 phuy dầu nhờn và 01phuy mỡ còn nguyên tem nhãn ở trong kho để bán.

Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, P lái xe về Phân xưởng vận tải 3 và đi qua phòng làm việc của M . M ra gặp P và nói với P : “Anh có ít dầu, mỡ em xem có chỗ nào mua thì giải quyết hộ anh”. Do nghĩ M có ít dầu thừa bán, nên bảo với M “để em bảo thằng em có quen chỗ nào không thì nó hộ bác”. Sau đó, P điện thoại cho em trai là N N T (sinh năm 1985, trú tại tổ 3, khu 1, phường Q H , thành phố CP), nói với T “Chỗ anh có anh ở kho dầu có ít dầu, mỡ bán, em xem có ai mua thì bán hộ anh ấy”. Anh T đồng ý mua, để sử dụng chạy thuyền và bảo “Lúc nữa em xuống lấy”. Khoảng 15 phút sau, anh T gọi điện cho P bảo “em đang xuống rồi”, P đi ra sân của Phân xưởng đón anh T . Lúc này, M lấy con dao có sẵn ở Trạm đi vào trong Kho, rồi dùng dao cắt, bóc 1 phần tem nhãn trên 01 (một) phuy dầu nhờn Cominlub nhãn SAE15W/40API:CH4, lô số 00001101 và 01 (một) phuy mỡ Sinopec Red NLGI3 lô số 00003018, vỏ tem nhãn cắt, bóc ra M vứt vào góc kho, mục đích để không xác định được nguồn gốc. Xong, M gọi P vào trong kho, P thấy không có ai. M bảo P vần hộ 01 phuy dầu nhờn và 01 phuy mỡ ra ngoài cửa kho. Lúc này, P mới biết không phải là dầu lẻ mà là còn nguyên cả phi, nên P hiểu M lấy trộm dầu của Xí nghiệp Vật tư mang bán. M nói với Phúc giá bán 02 phuy dầu, mỡ là 11.400.000 đồng. Cùng lúc đó, anh T điều khiển xe ô tô bán tải biển số 14C - 062.56 đến. M ra mở cổng kho để anh T lùi xe vào, rồi M , P và anh T đưa 02 phi dầu, mỡ lên xe ô tô. Anh T đưa cho P 15.000.000 đồng trả tiền dầu và trả nợ P . Sau đó, P trả cho M 11.400.000 đồng. Còn anh T điều khiển xe chở 02 phi dầu, mỡ đi về, khi đến khu vực tổ 5, khu 6A, phường CT, thì bị Công an thành phố CP kiểm tra, thu giữ: 01 (một) phi dầu nhờn vỏ kim loại sơn mầu xanh trắng, dán nhãn SAE 15w/40AOPI: CH4 tình trạng nắp thùng đậy kín, thể tích 209 lít; 01 (một) phi mỡ vỏ kim loại sơn mầu xanh đỏ dán nhãn Red Nlg13, trọng lượng 180 kg mã sản phẩm 121304, tình trạng nắp thùng đậy kín, có kẹp chì. 02 phi dầu, mỡ không có hóa đơn chứng từ. Ngoài ra, tạm giữ của anh T : Xe ô tô 14C

- 062.56 cùng Giấy đăng ký và Giấy chứng nhận kiểm định của xe và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO kèm theo sim. Số tiền bán phuy dầu, mỡ, M đưa cho chị N T T T (là vợ của M ) 9.900.000 đồng. Cùng ngày, M đến Công an thành phố CP đầu thú và giao nộp các tài liệu, đồ vật, tài sản gồm: 176 phiếu bán dầu nhờn, 78 phiếu bán mỡ máy (trong đó có 15 phiếu bán dầu nhờn và 16 phiếu bán mỡ tháng 9/2020), 27 phiếu bán ga doan, 02 bảng kê bán dầu DIEZEN và 09 bảng kê lượng xuất DIESEL đều của Công ty ĐĐTM. 28 Thẻ kho của Xí nghiệp Vật tư, 08 quyển sổ ghi chép liên quan đến công việc tại điểm cấp dầu Xe Khách, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart kèm theo sim và 2.600.000 đồng.

Khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra thu giữ tại góc phòng kho dầu 03 (ba) phần tem mác bằng nilon do M cắt, bóc ra từ phuy dầu và phuy mỡ. Tại phòng làm việc của M 01 (một) con dao dài 23,2cm, M sử dụng để cắt, bóc phần tem mác trên 02 thùng phuy.

Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 9.900.000 đồng do chị N T T T giao nộp.

Theo Bản kết luận giám định số 1335/KLGĐ ngày 25/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN, kết luận: Một phần tem mác kích thước (7,6x15,8x8,3x15,7) cm thu giữ bị rách ra từ tem mác dán trên nắp thùng phuy mầu xanh trắng, nhãn Sae 15w/40Api: CH4. Một tem mác kích thước 5,1x15,5cm thu giữ bị bóc ra từ thùng phuy mầu xanh trắng nhãn Sae 15w/40Api: CH4. Một tem mác kích thước 6,5x20,6cm thu giữ bị bóc ra từ thùng phuy mầu đỏ trắng, nhãn Red NLGI3.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTX ngày 07/9/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố CP, kết luận: 01 phuy dầu nhờn loại Cominlub Sae 15w/40Api: CH4, trọng lượng 209 lít trị giá 11.754.160 đồng và 01 phuy mỡ Sinopec Mp Red NLGI/3 (L3) mã sản phẩm 1213046, trọng lượng 180 kg trị giá 14.265.900 đồng. Tổng trị giá tài sản là 26.020.060 đồng.

Quá trình điều tra, TVM và NVP đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. M còn khai: M lấy lượng dầu, mỡ còn thiếu hụt so với sổ sách thì sau khi chiếm đoạt, M sẽ bù lại bằng cách tiếp tục tự ý bớt lại khi cấp phát tiếp theo. Khi lấy dầu trong kho, M tắt Camera ở Trạm để việc chiếm đoạt dầu, mỡ không bị phát hiện. M đưa tiền cho vợ là chị T , nhưng không nói cho chị T biết nguồn gốc. Đây là lần đầu M nhờ P bán dầu, mỡ. P còn khai: Khi thấy M bán cả phuy dầu, mỡ, thì P mới biết là M lấy của Công ty mang bán, nhưng P vẫn giới thiệu cho T mua.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan N N T khai phù hợp lời khai của TVM và NVP. Người làm chứng B X H khai phù hợp với lời khai của TVM như đã nêu trên.

Tại phiên tòa TVM và NVP khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu trên. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, đại diện Xí nghiệp vật tư CP trình bày: Công ty đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không đề nghị gì về bồi thường, Xí nghiệp đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo M mức án tù cho hưởng án treo.

B¶n c¸o tr¹ng sè 08/CT-VKSCP ngµy 29/12/2020 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố CP, ®· truy tè TVM vÒ téi: "Tham ô tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự; Truy tố NVP về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 §iÒu 323 Bé luËt h×nh sù.

T¹i phiªn tßa, ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố CP gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè, c¨n cø tÝnh chÊt, møc ®é, hµnh vi ph¹m téi, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng gi¶m nhÑ trách nhiệm hình sự, ®Ò nghÞ áp dụng khoản 1 Điều 353 và các điểm h, s,u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử ph¹t TVM từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng; Áp dụng khoản 1 Điều 323 và điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt NVP từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố CP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố CP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo t¹i phiªn tßa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chøng cø cã trong hå s¬ vô ¸n và phù hợp nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố CP đã truy tố các bị cáo, cã ®ñ c¬ së kÕt luËn:

Khoảng 11 giờ ngày 31/8/2020, tại tổ 47, khu Hải Sơn 2, phường C Đ , thành phố CP, tỉnh QN, lợi dụng công việc được giao là giao, nhận, quản lý và cấp phát dầu diezen, dầu nhờn và mỡ máy tại Trạm kinh doanh dầu Thống Nhất Xí nghiệp Vật tư CP - Chi nhánh Công ty cổ phần vật tư-TKV, TVM đã có hành vi chiếm đoạt 01 phuy dầu nhờn loại Cominlub Sae 15w/40Api:CH trọng lượng 209 lít trị giá 11.754.160đồng và 01 phuy mỡ Sinopec Mp Red NLGI/3, trọng lượng 180kg trị giá 14.265.900đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 26.020.060đồng.

NVP biết rõ TVM chiếm đoạt 02 phuy dầu nhờn, mỡ máy nêu trên, nhưng vẫn giới thiệu bán cho N N T .

Hµnh vi nêu trên của TVM ®· cấu thành téi “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự; Hành vi của NVP đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, nh Cáo trạng của ViÖn kiÓm s¸t đã truy tè các bị cáo nên chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên ®èi víi các bÞ c¸o.

Hµnh vi cña các bị cáo lµ nguy hiÓm cho x· héi, đã xâm phạm đến tài sản và hoạt động đúng đắn của Doanh nghiệp nhà nước.Việc làm của các bị cáo gây dư luận xấu trong nhân dân, do đó hành vi phạm tội của các bị cáo cần xử lý nghiêm.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã đầu thú, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Bị hại có đơn đề nghị xử phạt tù cho hưởng án treo; Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã lập công giúp Cơ quan điều tra phát hiện đối tượng khác phạm tội về ma túy. Ngoài ra bố, mẹ đẻ M là người có công với Nhà nước, được tặng Bằng dũng sỹ và Huy chương kháng chiến Hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo trong quá trình làm việc tại Xí nghiệp Vật tư CP luôn chấp hành tốt nội quy, qui định của Xí nghiệp, do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h, s và u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phúc đã từng bị xét xử cho hưởng án treo do lỗi vô ý, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 31/8/2020, quá trình điều tra và tại phiên tòa P đều thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát hiện kịp thời nên gây thiệt hại không lớn. Chính quyền địa phương, Công ty Cổ phần vận tải và đưa đón Thợ mỏ, nơi P cư trú và làm việc, đều xác nhận P là lao động chính trong gia đình, luôn chấp hành tốt quy định của pháp luật tại địa phương và cơ quan, các con của Phúc còn nhỏ, đề nghị xử phạt Phúc cho hưởng án treo. Vì vậy bị cáo Phúc được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh khó khăn của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo, mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương, sự phối hợp của gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo, để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

VÒ trách nhiệm dân sự: Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh N N T không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

VÒ hình phạt bổ sung: Các bÞ c¸o đều có hoàn cảnh khó khăn nªn kh«ng áp dụng hình phạt bổ sung là ph¹t tiÒn ®èi víi các bÞ c¸o. TVM hiện làm nghề tự do nên không cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định đối với bị cáo.

VÒ vËt chøng cña vô ¸n: Cơ quan điều tra trả lại tài sản gồm 01 phuy dầu, 01 phuy mỡ và các tài liệu liên quan cho Xí nghiệp vật tư CP, theo Biên bản trả lại đồ vật tài liệu ngày 09/12/2020 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cơ quan điều tra đang thu giữ 12.500.000đồng của bị cáo M , trong đó có 11.400.000đồng do M phạm tội mà có, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước. Số tiền còn lại 1.100.000đồng không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo M .

Minh sử dụng 01 con dao cán dài 23,2cm để cắt, bóc tem mác trên 2 thùng phuy, xét thấy con dao không có giá trị sử dụng, do đó tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 03 miếng tem chất liệu nilon trên 2 thùng phuy dầu, mỡ do Minh cắt và bóc ra, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[8 Đối với anh N N T được bị cáo P giới thiệu mua dầu nhờn và mỡ máy của TVM, nhưng anh T không biết nguồn gốc tài sản do M phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý.

Chiếc xe ô tô biển số 14C - 062.56 anh Thùy dùng để chở phuy dầu, mỡ và 01 điện thoại di động OPPO, Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến tội phạm, đã trả lại cho anh T là phù hợp pháp luật.

Anh B X H đưa một lần 31 phiếu bán dầu nhờn và mỡ máy cho TVM, nhưng không có sự bàn bạc chiếm đoạt tài sản của Xí nghiệp Vật tư CP, nên hành vi không cấu thành tội phạm, 31 phiếu trên là tài liệu đang được lưu trong hồ sơ vụ án do đó không xem xét.

Chị N T T T có hành vi giữ số tiền 9.900.000đồng của TVM, nhưng chị T không biết nguồn gốc số tiền này do Minh phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý.

Chiếc điện thoại di động Vsmart là tài sản của Xí nghiệp Vật tư CP, không liên quan đến tội phạm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Xí nghiệp là phù hợp pháp luật.

Về án phí: TVM và NVP ph¶i chịu ¸n phÝ h×nh sù sơ thẩm theo qui ®Þnh của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ khoản 1 Điều 353; Các điểm h, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Tuyªn bè: TVM ph¹m téi: “Tham ô tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; Các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Tuyªn bè: NVP ph¹m téi: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xö ph¹t: TVM 24 (Hai mươi bốn) tháng tï cho hưởng án treo, thêi gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tÝnh tõ ngµy tuyên án 29/3/2021.

Giao TVM cho Ủy ban nhân dân phường CT, thành phố CP, tỉnh QN để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình TVM có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường CT trong việc giám sát, giáo dục M . Trường hợp TVM thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Xö ph¹t: NVP 15 (Mười lăm) tháng tï cho hưởng án treo, thêi gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng tÝnh tõ ngµy tuyên án 29/3/2021.

Giao NVP cho Ủy ban nhân dân phường CT, thành phố CP, tỉnh QN để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình NVP có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường CT trong việc giám sát, giáo dục Phúc. Trường hợp NVP thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 02 và số 03/2021/HSST-LCĐKNCT ngày 04/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố CP, tỉnh QN đối với TVM và NVP.

Trong thời gian thử thách, TVM và NVP cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc TVM, NVP phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

Về vật chứng: Căn cứ các điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a,b,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao cán dài 23,2cm; 03 tem nhãn chất liệu nilon.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước : 11.400.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trả cho TVM 1.100.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 68/BB-THA ngày 19/01/2021 giữa Công an thành phố CP và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CP).

Về án phí: Căn cứ kho¶n 2 §iÒu 136 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ Tòa án: TVM và NVP, mỗi bị cáo ph¶i chịu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm 200.000®ồng.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

TVM và NVP cã quyÒn kh¸ng c¸o bản án sơ thẩm trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n 29/3/2021.

Bị hại Xí nghiệp Vật tư CP - Chi nhánh Công ty cổ phần vật tư -TKV, vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan N N T , vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ