vanban.org

Bản án 30

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 04/03/2025 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ăn cứ : Điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận. Giữ nguyên b n án hình sự sơ thẩm s 150/2024/HS-ST Ngy 14-11-2024 của Tòa án nhân

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo Nguyễn Hiếu tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? ăn cứ : Điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật T tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T

N N N N

NG

NG

T N M

T N

N T N

Đ c p - T do - nh ph c

B n án s : 30/2025/HS-PT

N y 04-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC C NG

I CH NG

T NAM

T

N N N N T N

N T N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phươn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Dũn , ông Lê Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình

Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà

Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngy 04 tháng 03 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân

tỉnh Bình Thuận và tại điểm cầu thành phần: tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi

xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý s

137/2024/TLPT-HS Ngy 24 tháng 12 năm 2024 đ i với bị cáo Nguyễn H. Do có

kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đ i với b n án hình sự sơ

thẩm s 150/2024/HS-ST Ngy 14 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La

Gi.

Bị cáo bị kháng nghị:

Họ và tên: Nguyễn H, sinh năm: 2004 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu ph

04, phường P, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ

học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Qu c

tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn H, sinh năm: 1976 và bà Tạ Thị Kim T, sinh năm:

1981; Chưa có vợ con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngy 24/9/2023, bị Công an thị xã

La Gi ra Qết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài s n tại Qết

định s 0035809/QĐ-XPHC với s tiền l 2.500.000 đồng. Nhân thân: Tại B n án s

89/2024/HSST Ngy 30/7/2024, bị Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận

tuyên phạt 02 năm 06 thán tù về tội “Trộm cắp tài s n”. Bị cáo bị bắt để tạm giam

Ngy 09/8/2024, hiện đan bị tạm giam tại nhà tạm giữ của Công an thị xã La Gi.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu th nh phần.

* Bị h i: 1. B Vũ Thị Ng, sinh năm: 1958; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu ph 06, phường T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận;

2. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1973; (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Khu ph 02, phường Ph, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận;

* Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần :

- Đại diện Tòa án nhân dân thị xã La Gi: ông N uyễn Trườn Vinh – Thư ký

Tòa án.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam khu vực La Gi: Ông N uyễn Văn

Long.

N

NG Ụ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau: N uyễn H đã bị Côn an thị xã La Gi xử phạt vi phạm h nh chính về h nh vi trộm cắp t i s n theo Qết định s 0035809/QĐ-XPHC Ngy 24/9/2023 với s tiền l 2.500.000 đồn . Để có tiền tiêu x i, N uyễn H đã tiếp tục thực hiện h nh vi trộm cắp t i s n trên địa b n thị xã La Gi, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: V o kho n 04 iờ Ngy 08/3/2024, tron lúc đan chơi ame tại

quán Net thuộc phườn Tân Thiện, thị xã La Gi, N uyễn H rủ N uyễn Qu c Q, sinh năm 2006 đi trộm cắp t i s n để bán lấy tiền x i, v Q đồn ý. Sau đó, H mượn xe mô tô của một n ười quen tron quán Net rồi điều khiển xe chở Q đi tìm t i s n để trộm cắp. Khi H điều khiển xe mô tô chở Q chạy n an qua nh b Vũ Thị Ng, sinh năm 1958, thì nhìn thấy phía trước nh có dựn 01 chiếc xe đạp thể thao. H dừn xe lại, c hai quan sát thấy khôn có ai, nên Q đi đến dắt xe đạp ra n o i đườn rồi điều khiển chạy về nh của H. Đến kho n 07 iờ Ngy 09/3/2024, H man xe đạp m H và Q đã trộm được của b Ng bán cho ôn N uyễn Văn H i, sinh năm 1980, được s tiền l 200.000 đồn ; H chia cho Q 100.000 đồn . Sau khi phát hiện xe đạp bị mất, b Vũ Thị Ng đã l m đơn trình báo với chính Qền địa phươn . Ngy 30/6/2024, Công an phườn T, thị xã La Gi đã thu iữ được chiếc xe đạp m H bán cho anh H i để xử lý theo Q định của pháp luật

Tại B n kết luận định iá t i s n s 80 Ngy 12/7/2024, Hội đồn định iá t i

s n tron t tụn hình sự thị xã La Gi kết luận: 01 xe đạp thể thao khôn nhãn hiệu, m u v n , sườn n an , 03 dĩa, 07 líp, đã qua sử dụn , còn hoạt độn , có iá trị l 700.000 đồn .

Vụ thứ hai: V o kho n 01 iờ Ngy 14/7/2024, N uyễn H chèo xuồn ra vị trí

neo đậu he tại khu vực Sôn Dinh, thuộc khu ph 5, phườn P, thị xã La Gi để trộm cắp t i s n; H phát hiện thấy he s BTH 991688 của Ôn N uyễn N ọc L, sinh năm 1973 khôn có n ười trôn coi, nên đã trèo lên he của anh L lấy trộm 01 bình ắc Q nhãn hiệu GS m u đen v đem v o bờ. Sau đó, H mượn xe mô tô biển s 86B6 – 102.58 của ôn N uyễn Văn Th, sinh năm 1994, để chở bình ắc quy đi tìm nơi tiêu thụ. Khi H điều khiển xe mô tô chở bình ắc quy đến khu vực Chợ La Gi thì bị ban qu n lý chợ phát hiện, nên đã đưa H cùn với tan vật đến Côn an phườn P để trình báo sự việc. Côn an phườn P đã tạm iữ 01 chiếc bình ắc quy mà H lấy trộm trên he của Ôn N uyễn N ọc L để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại B n kết luận định iá t i s n s 81 Ngày 25/7/2024, Hội đồn định iá t i

s n tron t tụn hình sự thị xã La Gi kết luận: 01 bình ắc quy hiệu GS, m u đen, đã qua sử dụn , còn hoạt độn , có iá trị l 400.000 đồn .

Vật chứn vụ án: khôn .

Về dân sự: Sau khi sự việc x y ra, các bị hại đã nhận lại t i s n nên khôn có

yêu cầu ì, ôn N uyễn Văn H1 cũn khôn có yêu cầu H ph i tr lại s tiền 200.000 đồn .

Tại b n án hình sự sơ thẩm s 150/2024/HS-ST Ngy 14/11/2024 của Tòa án

nhân dân thị xã La Gi đã Qết định:

Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 173; Điểm s kho n 1 Điều 51; Điểm kho n 1

Điều 52; Kho n 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự .

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật T tụn hình sự.

Căn cứ kho n 2 Điều 135; Kho n 2 Điều 136 Bộ luật T tụn hình sự; Điểm a

kho n 1 Điều 23 N hị Qết s 326/2016/UBTVQH 14 Ngy 30/12/2016 của Ủy ban

Thườn vụ Qu c hội Q định về mức thu, miễn, i m, thu, nộp, qu n lý v sử dụn

án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên b : Bị cáo N uyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo N uyễn H 02 (Hai) năm tù.

Tổn hợp với hình phạt 02 năm 06 thán tù theo B n án s 89/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024 của To án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo

ph i chấp h nh hình phạt chun cho c hai b n án l 04 (B n) năm 06 (Sáu) thán

tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ Ngy bị bắt để tạm iam l Ngy

09/8/2024.

B n án sơ thẩm còn Quyết định về án phí, Quyền kháng cáo b n án theo luật

định.

Ngy 10 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có

kháng nghị s 465/QĐ-VKS-P7 với nội dung :

B n án sơ thẩm đã Quyết định: Căn cứ kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự để

xử phạt bị cáo Nguyễn H về tội “Trộm cắp tài s n” l chưa chính xác.

B n án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăn nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội hai

lần trở lên theo Q định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị

cáo Nguyễn H 02 năm tù l có sự vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng quy định

pháp luật dẫn tới xử phạt bị cáp có phần nghiêm khắc.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận kháng nghị 1 phần b n án

hình sự sơ thẩm, đề nghị sửa 1 phần b n án sơ thẩm theo hướng xử phạt bị cáo

Nguyễn H về tội Trộm cắp tài s n theo điểm a kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự v

khôn áp dụn tình tiết tăn nặng trách nhiệm hình sự Phạm tội hai lần trở lên: quy

định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, gi m nhẹ một phần hình phạt cho

bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận

phát biểu quan điểm về vệc gi i Quyết vụ án: B n án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội

“Trộm cắp tài s n” l có căn cứ. Tuy nhiên, việc áp dụng tình tiết tăn nặng phạm

tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự l chưa

chính xác. Kiểm sát viên rút phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh

Bình Thuận về b n án chính tH điểm a tại Điều 173 Bộ luật hình sự , mà sẽ tổng hợp

kiến nghị rút kinh nghiệm chung trong việc xét xử. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử

cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận,

sửa b n án hình sự sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết tăn nặn điểm g

kho n 1 Điều 52 Bộ luật hình sự và gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đều h i hận về hành

vi phạm tội xin Hội đồng xét xử gi m nhẹ hình phạt.

NH N ĐỊNH C A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranhtụngtại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về thủ tục t tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình

Thuận trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét gi i quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại vắn mặt. Xét thấy, bị hại đã được t n đạt hợp lệ nhưn vắn mặt, việc vắn mặt bị hại khôn nh hưởn đến việc i i Qết vụ án nên HĐXX khôn ph i hoãn phiên tòa m tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị

cáo về tội “Trộm cắp tài sản” l đún n ười, đún tội, khôn oan sai. Bị cáo là n ười có đủ năn lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ nhận thức được quyền sở hữu t i s n của cá nhân, tổ chức được pháp luật nh nước b o vệ, mọi h nh vi xâm phạm đến quyền sở hữu t i s n của n ười khác sẽ bị trừn trị. Hành vi của bị cáo trộm cắp đã đủ yếu t cấu th nh tội trộm cắp t i s n. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử về tội ““Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự l có căn cứ, đún n ười, đún tội, đún pháp luật.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, HĐXX thấy

rằng: tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g kho n 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã có từ 02 lần phạm tội trở lên đ i với một tội phạm mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu t cấu thành tội phạm, đồng thời trong s các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự v chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặc dù trị giá tài s n chiếm đoạt các Ngy 08/3/2024 và Ngày 14/7/2024 đều dưới 2.000.000 đồn nhưn bị cáo Nguyễn H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về h nh vi “Trộm cắp tài s n”, mỗi lần trộm cắp của bị cáo đều đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài s n”, thời gian cách xa nhau 4 tháng, không có tính liên tục. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăn nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” là có căn cứ.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ n uy hiểm cho xã hội

của h nh vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết i m nhẹ v tăn nặn trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo H 02 năm tù theo điểm a kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự l thỏa đán , khôn nặn bởi vì bị cáo có nhân thân xấu. Mức hình phạt m Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụn l phù hợp với tính chất, mức độ h nh vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện. Đồn thời, tất c các tình tiết i m nhẹ đã được cấp sơ thẩm áp dụn cho các bị cáo đún quy định. Tại phiên tòa bị cáo khôn đưa ra được các tình tiết n o mới để HĐXX i m nhẹ hình phạt.

[5] Về việc áp dụng pháp luật tại b n án phát hành chỉ ghi kho n 1 Điều 173

Bộ luật hình sự, đ i cH với b n án g c thì phần quyết định đã hi đầy đủ điểm a kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại thông báo sửa chữa bổ sung b n án của tòa án cấp sơ thẩm đã thể hiện cấp sơ thẩm đã phát hiện sai sót cần sửa chữa lại. HĐXX thấy rằng việc tH điểm a tại phần quyết định của cấp sơ thẩm là do sai sót trong soạn th o bởi trong phần nhận nội dung của b n án sơ thẩm đều thể hiện rõ điều luật áp dụng là điểm a kho n 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, sai sót n y khôn nh hưởn đến việc định tội danh hay l m thay đổi b n chất của vụ án. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh n hiệm tron việc kiểm tra v phát h nh b n án. Kiểm sát viên rút khán n hị phần n y l có cơ sở.

[6] Các Qết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí: Bị cáo không kháng cáo nên không nộp án phí phúc thẩm. Viện

kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận kháng nghị không ph i chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QẾT ĐỊNH

1. ăn cứ : Điểm a kho n 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự

Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận. Giữ

nguyên b n án hình sự sơ thẩm s 150/2024/HS-ST Ngy 14-11-2024 của Tòa án nhân

dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

2. Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 173; điểm s kho n 1 Điều 51; điểm g kho n 1

Điều 52; Kho n 2 Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự .

Căn cứ kho n 2 Điều 135; Kho n 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật

T tụng hình sự.

Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 23, điểm d kho n 1 Điều 11 Nghị quyết s

326/2016/UBTVQH 14 Ngy 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quyết

định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử ph t: Bị cáo Nguyễn H 02 (Hai) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt 02 năm 06 thán tù theo B n án s 89/2024/HS-ST

Ngy 30-7-2024 của Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo ph i

chấp hành hình phạt chung cho c hai b n án là 04 (B n) năm 06 (Sáu) thán tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 09/8/2024.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụn Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Kho n

1 Điều 23 của N hị quyết 326/2016/UBTVQH14 Ngy 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Qu c hội : Bị cáo Nguyễn H ph i nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm

5. Các quyết định khác của b n án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,

không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,

kháng nghị.

B n án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày

04/3/2025).

Cỡ chữ