- Tranh chấp gì? "trộm cắp ts - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: ị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n n s : 30/2021/HSST Ngày: 18-5-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Huỳnh Thị Lài
2. Bà Cao Thị Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận B, thành ph C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố C tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm – Kiểm s t viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Toà n nhân dân quận B xét xử sơ thẩm công khai vụ n hình sự thụ lý s : 31/2021/HSST ngày 12 th ng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ n ra xét xử s : 255/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021, đ i với bị c o:
Phạm Hoàng Châu Kim Y, sinh năm 1978 tại V; Hộ khẩu thường trú: Khóm 4, phường V1, thị xã M, tỉnh V; nơi cư trú: S 101 đường Nguyễn Văn Cừ, phường H, quận N, thành ph C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; qu c tịch: Việt Nam; con ông Phạm H (s ng) và bà Châu Thị Đ (s ng); chồng Nguyễn B1 (chết), con nhỏ nhất sinh năm 2010, con lớn nhất sinh năm 2002, tiền sự: Không; tiền n: Không.
Ngày 12/01/2021 bị c o bị p dụng biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị hại: Bà Lê Thị T, sinh năm 1949; địa chỉ: S 364D/15, tổ 15, khu vực N1, phường L, quận B, thành ph C.
Người làm chứng: Nguyễn Lê Yên S, sinh năm 1973; địa chỉ: S 364D/15, tổ 15, khu vực N1, phường L, quận B, thành ph C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Vào ngày 10/11/2020, Phạm Hoàng Châu Kim Y có đến nhà của chị Nguyễn Lê Yên S tại s 364D/15, Tổ 15, khu vực N1, phường L, quận B để làm thuê phụ giúp việc nhà. à Lê Thị T là mẹ ruột chị S s ng cùng nhà s 364D/15 nêu trên. Công việc của Y chủ yếu là lau dọn vệ sinh nhà trong kho ng thời gian từ 07 giờ s ng đến 11 giờ trưa với tiền công thỏa thuận là 120.000 đồng/buổi.
Sáng ngày 13/11/2020, Y đến nhà của bà S để làm như thường lệ. Trong lúc lau dọn trong phòng ngủ của bà Lê Thị T, Y ph t hiện tại vị trí ngăn đựng quần o đầu tiên từ trên xu ng của chiếc tủ gỗ đặt trong phòng có 01 túi v i màu xanh. Y lấy và mở túi v i này ra, thấy bên trong có nữ trang vàng nên Y đã lén lút lấy trộm s tài s n bao gồm: 02 chiếc nhẫn vàng 24K; 01 chiếc lắc vàng 18K có đính hột và 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt bằng vàng đính hột. Sau khi lấy được tài s n, Y giấu vào chiếc túi ni lông đựng đồ dùng c nhân của Y để ở kệ giày dép đặt tại phòng khách nhà chị S.
Khi hết giờ làm, Y mang chiếc túi ni lông đựng đồ dùng c nhân trong đó có s vàng lấy trộm được về nhà tại s 101, đường Nguyễn Văn Cừ, phường H, quận N, thành ph C cất giữ. Đến kho ng 15 giờ cùng ngày, Y lấy 01 chiếc nhẫn vàng 24K trong s vàng đã lấy trộm mang đến Tiệm vàng Kim X, có địa chỉ tại s 933, Tổ 17, Khóm 1, phường V1, thị xã M, tỉnh V b n được s tiền 10.040.000 đồng. Y sử dụng 9.900.000 đồng tr nợ cho người tên Tiến (không rõ nhân thân), s còn lại Y chi xài cá nhân.
Kết luận định gi tài s n s 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2021 của Hội đồng định gi tài s n trong t tụng hình sự quận B kết luận:
- 01 chiếc nhẫn bằng vàng mặt vuông loại vàng 99% (23.76k) trọng lượng 03 chỉ có gi mua vào là 15.681.000 đồng và gi b n ra là 16.125.000 đồng;
- 01 chiếc lắc bằng vàng có đính hột (hột không có gi trị mua, b n) loại vàng 72% (17.28K) trọng lượng 1,028 chỉ (không có hột) có gi mua vào là 3.907.000 đồng và gi b n ra là 4.018.000 đồng;
- 01 dây chuyền bằng vàng loại vàng 72% (17.28k) trọng lượng 2,282 chỉ có gi mua vào là 8.674.000 đồng và gi b n ra là 8.920.000 đồng;
- 01 mặt dây chuyền bằng vàng có đính hột bằng đ màu xanh hình phật (hột không có gi trị mua, b n) loại vàng 72% (17.28k) trọng lượng 0,502 chỉ có gi mua vào 1.908.000 đồng và gi b n ra là 1.962.000 đồng.
Kết luận định gi tài s n s 04/KL-HĐĐGTS ngày 01/02/2021 của Hội đồng định gi tài s n trong tụng hình sự quận B kết luận: 01 nhẫn bằng vàng mặt vuông loại vàng 24K trọng lượng 02 chỉ có gi mua vào là 10.680.000 đồng và gi b n ra là 10.890.000 đồng.
Qu trình điều tra, bà Lê Thị T trình b o bị mất s tài s n (07 tài s n) gồm: 01 chiếc nhẫn vàng 24K trọng lượng 02 chỉ; 02 chiếc nhẫn vàng 24K mặt vuông trọng lượng 03 chỉ; 01 chiếc nhẫn vàng 18K có gắn hột đ cẩm thạch, trọng lượng 01 chỉ; 01 chiếc lắc tay bằng vàng 18K có gắn đ cẩm thạch trọng lượng 01 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt bằng vàng tổng trọng lượng 2,5 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt hình ô van bằng cẩm thạch (không rõ trọng lượng) nhưng không cung cấp được c c ho đơn chứng từ để chứng minh nguồn g c, xuất xứ s tài s n này. Riêng Y chỉ thừa nhận có lấy trộm các tài s n gồm: 02 chiếc nhẫn vàng 24K mặt vuông; 01 chiếc lắc vàng 18K có đính hột; 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt bằng hình Phật bằng vàng.
Qu trình điều tra, Y đã giao nộp s tài s n gồm: 01 chiếc nhẫn vàng mặt vuông tuổi vàng 99% (23.76k), trọng lượng 03 chỉ; 01 chiếc lắc tuổi vàng 72% (17.28k), trọng lượng 1,028 chỉ; 01 sợi dây chuyền vàng 72% (17.28k), trọng lượng 1,282 chỉ; 01 mặt dây chuyền vàng đ màu xanh hình phật tuổi vàng 72% (17.28k), trọng lượng 0,502 chỉ.
Cơ quan C nh s t điều tra Công an quận B ra quyết định xử lý vật chứng tr
lại cho bà Lê Thị T c c tài s n trên. Đ i với chiếc nhẫn vàng Y đã b n không thu hồi được.
Qu trình điều tra Phạm Hoàng Châu Kim Y thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và phù hợp với những chứng cứ thu giữ, kết luận điều tra.
Tại b n C o trạng s 28/CT-VKSBT ngày 06/4/2021 của Viện kiểm s t nhân dân quận B đã truy t bị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y về tội Trộm cắp tài s n theo quy định tại kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự;
Tại phiên toà sơ thẩm, bị c o thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung c o trạng đã truy t . Tuy nhiên, bị c o cho rằng khi lấy túi v i màu xanh của bà T thì bị c o không biết bên trong là gì. Đến khi về tới nhà, bị c o mở túi ra mới biết bên trong là s vàng, nữ trang.
Đại diện Viện kiểm s t nhân dân quận B, thành ph C vẫn giữ nguyên quan điểm truy t bị c o về tội danh và điều kho n p dụng như C o trạng. Đồng thời, phân tích hành vi phạm tội của bị c o. Về tình tiết gi m nhẹ: Qu trình điều tra bị cáo thành khẩn khai b o nhưng tại phiên tòa bị c o quanh co không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. ị c o phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết gi m nhẹ quy định tại điểm i kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự ị c o phạm tội đ i với người trên 70 tuổi nên bị p dụng tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự tại điểm i kho n 1 Điều 52 ộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử p dụng Điều 38, kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo từ 09 th ng đến 12 tháng tù.
Tr ch nhiệm dân sự: uộc bị c o bồi thường thiệt hại cho bị hại s tiền 10.680.000 đồng là giá vàng mua vào.
Trong phần tranh luận, bị c o đồng ý với nội dung truy t của Viện kiểm s t và xin lỗi đ i với bị hại.
ị hại có ý kiến xin gi m nhẹ hình phạt cho bị c o và không yêu cầu gi i quyết đ i với s vàng bị hại cho rằng có mất trộm nhưng bị c o Y không thừa nhận đã lấy. ị hại yêu cầu bị c o hoàn tr gi trị 02 chỉ vàng loại 24K mà bị c o lấy và bán không thu hồi được.
Ph t biểu lời nói sau cùng, bị c o ăn năn h i c i xin Hội đồng xét xử cho bị c o được hưởng n tù treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định t tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, Kiểm s t viên, Viện kiểm s t nhân dân quận B, thành ph C trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật t tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại phiên tòa bị c o không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó hành vi, quyết định t tụng của cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đã thực hiện là hợp ph p.
Lời khai nhận tội của bị c o tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các biên b n ghi lời khai cùng c c chứng cứ kh c đã được thu thập hợp ph p có trong hồ sơ vụ n. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Kho ng 08 giờ 30 phút ngày 13/11/2020, tại nhà s 364D/15, Tổ 15, khu vực N1, phường L, quận B, Phạm Hoàng Châu Kim Y đã có hành vi lén lút lấy trộm vàng, nữ trang của bà Lê Thị T với tổng gi trị là 40.850.000 đồng. Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n của người kh c được ph p luật b o vệ. Hành vi của bị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài s n” theo kho n 1 Điều 173 ộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Mặc dù, bị c o có nhân thân t t. Tuy nhiên, hành vi của bị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài s n của công dân. Bị c o đủ tuổi chịu tr ch nhiệm hình sự, đủ kh năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị c o biết rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu của công dân sẽ bị ph p luật trừng trị nhưng vẫn c ý thực hiện. Hội đồng xét xử nghĩ nên, cần có mức n nghiêm Tơng xứng với hành vi phạm tội của bị c o để răn đe, gi o dục bị c o và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình gi m nhẹ, tiết tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự:
Theo hồ sơ thể hiện trong qu trình điều tra bị c o thành khẩn khai b o nhưng tại phiên tòa hôm nay bị c o quanh co, không thừa nhận hết c c hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, bị c o thực hiện hành vi phạm tội là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và bị hại có yêu cầu xin gi m nhẹ hình phạt cho bị c o nên bị c o được hưởng tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự tại điểm i kho n 1 và kho n 2 Điều 51 ộ luật hình sự. ị c o thực hiện hành vi phạm tội đ i với bị hại sinh năm 1949 (tính đến nay là trên 70 tuổi) nên bị p dụng tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự tại điểm i kho n 1 Điều 52 ộ luật hình sự. Đề nghị của Kiểm s t viên tại phiên tòa về mức hình phạt đ i với bị c o là có cơ sở chấp nhận.
Tr ch nhiệm dân sự: Trong s tài s n bị c o lấy trộm thì bị c o đã lấy b n 01 chiếc nhẫn vàng loại 24K, trọng lượng 02 chỉ. Do không thu hồi được vật chứng này nên bị c o ph i bồi thường gi trị 02 chỉ vàng loại 24K cho bị hại là gi vàng b n ra của Hội đồng định gi kết luận 10.890.000 đồng.
Án phí: Bị c o ph i chịu n phí hình sự sơ thẩm và n phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: ị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
2. Căn cứ vào kho n 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm i kho n 1, kho n 2 Điều 51, điểm i kho n 1 Điều 52 ộ luật Hình sự.
Xử phạt: ị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y 12 (mười hai) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị c o chấp hành n.
3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 ộ luật Hình sự; kho n 1 Điều 589, Điều 357, kho n 2 Điều 468 ộ luật dân sự 2015.
uộ bị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y có tr ch nhiệm hoàn tr cho bị hại Lê Thị T s tiền 10.890.000 đồng.
Kể từ ngày n n có hiệu lực ph p luật và người được thi hành n yêu cầu thi hành n mà người ph i thi hành n không thực hiện xong nghĩa vụ tr tiền thì hàng th ng người ph i thi hành n còn ph i chịu kho n tiền lãi đ i với s tiền chậm tr theo mức lãi suất quy định tại kho n 2 Điều 468 của ộ luật dân sự, Tơng ứng với thời gian chậm tr .
4. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n.
Bị c o Phạm Hoàng Châu Kim Y ph i chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) n phí hình sự sơ thẩm và 544.500 đồng n phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị c o, bị hại được quyền kh ng c o trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n để yêu cầu Tòa n nhân dân thành ph C xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. C; - VKSND Q. B; - CA Q. B; - Chi cục THADS Q.B; - Sở T pháp TP. C; - ị c o; ị hại; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quyên |