vanban.org

Bản án 30

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Dương Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt giam thi hành án. Áp dụng: Khoản 2 Điều 136, các Điều 331,333,336,337 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Dương Văn T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH T HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022HS-ST
.
Ngày 29-4-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- T HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thuỷ

Ông Hoàng Văn Hiệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2022/HSST ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Dƣơng Văn T - Sinh năm 1986; sinh trú quán: Số nhà X, phố L, thị trấn T , huyện T, tỉnh T Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Q và bà Trịnh Thị T; có vợ là Hoàng Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền sự: Không;

Tiền án: Ngày 29/8/2014, bị Tòa án nhân dân quận T X, thành phố Hà Nội, xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 162/2014/HSST ngày 29/8/2014).

Ngày 17/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh T Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp với 08 tháng tù của Bản án số 162/2014/HSST ngày 29/8/2014, T phải chấp hành 26 tháng tù giam, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 14/3/2017 (Bản án số 14/2015/HSST ngày 17/9/2015).

Ngày 12/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện huyện Triệu Sơn, tỉnh T Hóa, xử phạt 28 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/12/2019 (Bản án số 13/2018/HSST ngày 12/4/2018).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1973

+ Chị Lê Thị X, sinh năm 1977

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh T Hóa, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Điện Lực huyện T, tỉnh T Hóa. Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Phương D- Trưởng phòng kinh doanh Điện lực huyện Triệu Sơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 25/11/2021, Dương Văn T đi bộ từ nhà ở phố Lê Lợi đến nhà chị Lê Thị Hương ở phố Tân T, thị trấn Triệu Sơn mượn xe máy đi mua cây cảnh. T đi đến khu vực thôn 12, xã Thọ Bình thấy nhà anh T1 có nhiều cây cảnh nên dựng xe máy ở cổng rồi đi vào nhà để hỏi mua cây. Vào khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày T vào trong nhà anh T1 nhìn thấy có 01 điện thoại di động và 01 máy tính bảng để trên bàn nhà chính, không có ai ở nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Quan sát nhà anh T1 có lắp Camera, T ra hè rút điện Camera rồi vào trong nhà lấy 01điện thoại di động bị vỡ màn hình và máy tính bảng, rồi điều khiển xe về thị trấn Triệu Sơn. Khi đi đến đoạn đường thuộc làng Tân Ninh, xã Minh Sơn, T tháo và vứt sim điện thoại xuống đất, còn điện thoại và máy tính T cất giấu ở nghĩa trang làng Tân Ninh, sau đó T trả xe máy cho chị Hương rồi đi bộ về nhà.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/11/2021, T đi bộ ra nghĩa trang lấy điện thoại và máy tính, rồi đi đến ngã tư Dân Lực bán điện thoại cho một người phụ nữ không quen biết được 350.000đ. Sau đó, T bắt xe ôm xuống thành phố T Hóa bán máy tính bảng cho người nam giới không quen biết giá 2.200.000đ. Số tiền bán điện thoại và máy tính T dùng trả tiền xe ôm và tiêu sài cá nhân hết.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã trích xuất và trưng cầu giám định hình ảnh người nam giới đột nhập vào nhà anh T1 vào thời điểm mất tài sản. Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T Hóa kết luận: Không phát hiện dấu hiện chỉnh sửa, cắt ghép trong video gửi đi giám định và trích xuất 12 ảnh về đối tượng.

Quá trình điều tra đã xác định anh Trịnh Tiến Hòa ở xã Dân Lực mua điện thoại OPPO A3S bị vỡ màn hình từ một người phụ nữ không quen biết giá 600.000đ. Sau đó, anh Hoà đi ép màn hình hết 250.000đ và bán lại cho anh Hoàng Tiến Nam giá 1.370.000đ.

Đại diện Điện lực Triệu Sơn báo cáo Điện lực ký hợp đồng với anh T1 về việc thu tiền điện hàng tháng của các hộ dân. Điện Lực Triệu Sơn giao cho anh T1 01 máy tính bảng Samsung để anh T1 quản lý, sử dụng trong thời gian thu tiền điện. Anh T1 báo cáo máy tính đã bị mất trộm vào ngày 25/11/2021. Điện Lực Triệu Sơn yêu cầu anh T1 có trách nhiệm trả lại máy tính cho Điện Lực Triệu Sơn, không yêu cầu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Triệu Sơn giải quyết phần dân sự.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 27/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Triệu Sơn định giá: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S có giá 1.215.000 đồng, 01 máy tính bảng Samsung có giá: 7.850.000đ.

Ngoài ra, bị hại còn báo cáo bị mất số tiền 14.781.000đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, T không thừa nhận lấy trộm số tiền này, các chứng cứ tài liệu khác không đủ cơ sở để kết luận T đã trộm cắp số tiền này.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S do anh Hoàng Tiến Nam ở thôn Hà Lũng Thượng, xã Thọ Dân giao nộp và đã trả lại điện thoại cho chị Lê Thị X vợ anh Nguyễn Đình T1. Đối với máy tính bảng Samsung không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Dương Văn T đã bồi thường cho anh Nguyễn Đình T1 số tiền trị giá máy tính 7.850.000đ, bồi thường cho anh Hoàng Tiến Nam số tiền mua điện thoại 1.370.000đ. Anh Nguyễn Đình T1 rút yêu cầu bồi thường máy tính và tiền mặt 14.781.000đ, không yêu cầu Toà án giải quyết phần dân sự.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKS-TS ngày 08 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38BLHS xử phạt Dương Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn T khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vợ chồng bị cáo mới ly hôn (án chưa có hiệu lực pháp luật), bị cáo đang nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[

Về sự vắng mặt của bị hại: Anh T1 và chị X có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường dân sự và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ 292 BLTTHS, HĐXX tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 25/11/2021, Dương Văn T đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S có giá 1.215.000 đồng của chị X và 01 máy tính bảng Samsung có giá: 7.850.000đ của Điện lực Triệu Sơn giao cho anh T1 sử dụng. Tổng trị giá tài sản T trộm cắp là 9.065.000 đồng. Ngoài ra, bị hại còn báo cáo bị mất số tiền 14.781.000đ. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, Dương Văn T không thừa nhận lấy số tiền này, các chứng cứ và tài liệu khác không đủ cơ sở để kết luận T trộm cắp số tiền 14.781.000đ. Bị hại xin rút yêu cầu về số tiền trên.

Dương Văn T thực hiện hành vi chiếm đoạt điện thoại và máy tính bảng có giá trị 9.065.000 đồng khi đang có nhiều tiền án, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt của tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173BLHS. Vì vậy, Bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án, tính chất của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Tính chất hành vi phạm của bị cáo Dương Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51BLHS. Vì vậy, được xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị kết án nhưng bị cáo không thấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân, lại tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp và thu nhập của bị cáo không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra trả lại điện thoại cho chị Lê Thị X là đúng quy định.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, không có yêu cầu giải quyết phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Dương Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt giam thi hành án.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136, các Điều 331,333,336,337 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về án phí: Buộc Dương Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ