vanban.org

Bản án 30/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Về con chung: Ông D nuôi con tên Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 17/4/2008 , bà O nuôi con tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 03/9/2018, không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ KIM O, NGUYỄN VĂN D"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƢỚC
Bản án số: 30 /HNGĐ – ST
Ngày: 20/6/2023
V/v “Xin ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Chinh Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Ngọc Loan

2. Ông Hoàng Minh Diệu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước: Ông Cao Thanh Nam – kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 308/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 7, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D – sinh năm: 1985 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 7, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim O trình bày: Bà O và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống với nhau năm 2007, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Lộc Ninh. Trước khi kết hôn tìm hiểu khoảng 12 tháng. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà O xin ly hôn với ông D.

Về con chung: Có 02 con tên Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 17/4/2008 và Nguyễn Trọng N, sinh ngày 03/9/2018. Khi ly hôn bà O nuôi con tên N, để ông D nuôi con tên Đ, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Ông D có HKTT ở ấp 7, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Tòa án tiến hành tống đạt các thủ tục, tuy nhiên ông D không đến Tòa án để cung cấp lời khai, chứng cứ.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tại phiên tòa, thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ông D vắng mặt, tuy nhiên Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt theo quy định nên đề nghị xét xử vắng mặt.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim O.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao bà O nuôi con tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 03/9/2018, giao ông D nuôi con tên Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 17/4/2008 không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Không có nên không giải quyết.

Về án phí: Đương sự chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Kim O có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn D nên vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông D cư trú tại xã L, huyện Lộc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn D vắng mặt, tuy nhiên Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt theo quy định. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Kim O và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống với nhau năm 2007, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện Lộc Ninh, vì vậy hôn nhân giữa bà O và ông D là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án ông D vắng mặt. Tòa án tiến hành tống đạt các thủ tục theo quy định pháp luật nhưng ông D không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có mặt tại tòa, không thực hiện quyền lợi của mình, nên Hội đồng xét xử căn cứ lời khai của bà O và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án, các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập được để xem xét.

Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chung sống giữa bà O và ông D phát sinh mâu thuẫn, theo bà O do bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian sống ly thân không hàn gắn tình cảm được. Bà O xác định không còn tình cảm với ông D, không đồng ý trở lại sống chung nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà O và ông D đã trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà O được ly hôn với ông D.

Về con chung: Có 02 con tên Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 17/4/2008 và Nguyễn Trọng N, sinh ngày 03/9/2018. Khi ly hôn con tên N còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của mẹ, bà O yêu cầu nuôi nên cần giao cho bà O nuôi con tên N. Đối với con tên Đ có nguyện vọng sống với ông D nên giao ông D nuôi, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không giải quyết.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà O phải chịu số tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 và khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim O được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

2. Về con chung: Ông D nuôi con tên Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 17/4/2008 , bà O nuôi con tên Nguyễn Trọng N, sinh ngày 03/9/2018, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Bà O chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010178 ngày 08 tháng 12 năm 2022.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ