- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Ngọc L - giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trang Ngọc L phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2026/HS-ST Ngày: 04/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Mai Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Nga;
2. Ông Lê Hạnh;
3. Bà Huỳnh Thị Tuyết Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thiên Phước – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Võ Duy Khải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026 đối với:
Bị cáo Trang Ngọc L, sinh ngày 13/8/1963 tại tỉnh Quảng Ngãi; số căn cước: 0510630003460 do Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/9/2025; nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang H (Chết) và bà Phan Thị H1, sinh năm 1937; vợ đã ly hôn; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bi ̣ tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Tra ̣i ta ̣m giam số 1 Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Trang Ngọc L: Ông Nguyễn Xuân V – Luật sư Văn phòng L1 và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà R, số A đường H, phường N, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
Bị hại: Bà Dương Thị N, sinh ngày 01/01/1964 (Chết);
Đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Trang Ngọc S, anh Trang Ngọc P, chị Trang Thị X, anh Trang Ngọc S1, chị Trang Thị S2, anh Trang Ngọc S3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trang Ngọc S, sinh năm 1965.
2. Anh Trang Ngọc P, sinh năm 1996.
3. Chị Trang Thị X, sinh năm 1985; có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Bà Lê Thị M, sinh năm 1957; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm A, thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trang Ngọc S, anh Trang Ngọc P, chị Trang Thị X, anh Trang Ngọc S1, chị Trang Thị S2, anh Trang Ngọc S3: Anh Trang Ngọc P, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm A, thôn H, xã T, tỉnh Quảng Ngãi; ông T và anh P có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trang Ngọc L sinh sống cùng mẹ ruột là bà Phan Thị H1, ở liền kề là nhà ông Trang Ngọc S, là em ruột của L.
Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 29/6/2025, Trang Ngọc L đang ngồi uống rượu tại hè nhà thì anh Trang Ngọc P (con ông Trang Ngọc S) qua gom hết đồ ăn, rượu và bảo ông L ra sau nhà uống rượu. Vì bực tức, L qua quán tạp hóa của bà Lê Thị M ở gần nhà và tự ý lấy 01 (một) can nhựa đựng xăng (loại can 05 lít, bên trong còn xăng). Sau đó, L đem can xăng qua nhà ông S tưới vào xe mô tô biển kiểm soát 76AD-032.55 của P và bao giấy vàng mã của chị Trang Thị X (con ông S) để trước sân, lúc này có bà Dương Thị N (vợ ông S) từ trong nhà đi ra, L quay về nhà lấy 01 (một) bật lửa, quay lại nhà ông S châm lửa đốt. Khi đám lửa đang cháy, bà N can ngăn và hô hoán thì L tiếp tục cầm can xăng tưới số xăng còn lại lên người bà N và khu vực xung quanh làm cho ngọn lửa bùng cháy lên người bà N, làm bà N bị cháy toàn thân. Sau đó, người dân sinh sống xung quanh chạy đến dập lửa, Trang Ngọc L bị lửa cháy vào chân nên bỏ vào nhà, bà Dương Thị N được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đ để điều trị, đến ngày 21/7/2025 bà N chết.
Ngày 19/8/2025, Trung tâm pháp y tỉnh Q có Kết luận giám định tử thi số 09/KLGĐTT-TTPY, kết luận nguyên nhân chết: Suy đa tạng do bỏng.
Ngày 29/7/2025, Trung tâm pháp y tỉnh Q có Kết luận giám định mô bệnh học số: 01/KLMBH-TTPY, kết luận:
Mô u não: Mảnh mô u não cho thấy hình ảnh tăng sản tế bào hình thoi nhân tròn, tế bào u xếp từng đám. Nhiều nơi thấy hình ảnh canxi hóa.
Mô não: Mảnh mô não cho thấy hình ảnh tổ chức não phù nề, các mạch máu sung huyết.
Mô gan: Mảnh mô cho thấy hình ảnh mạch máu sung huyết, khoảng cửa thấm nhập lymphô bào.
Mô tim: Mảnh mô cho thấy hình ảnh cơ tim có cấu trúc mô học bình thường, mạch máu dãn rộng lòng chứa đầy hồng cầu.
Mô phổi: Mảnh mô cho thấy hình ảnh phế quản và phế nang hiện diện nhiều tế bào viêm bạch cầu đa nhân, tương bào, thực bào.
Ngày 16/9/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định nguyên nhân cháy số: 699/KL-KTHS, kết luận nguyên nhân cháy: Do sự tác động của con người gây ra vụ cháy trên.
Ngày 06/9/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số: 701/KL-KTHS, kết luận: Chất bám dính trên mẫu gửi giám định có tìm thấy chất cháy, loại: Xăng.
Ngày 28/8/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định dữ liệu điện tử số: 700/KL-KTHS, trích xuất 01 DVD dữ liệu hình ảnh liên quan, 01 tập tin video (bao gồm hình ảnh, âm thanh) có tên “PZNV1543”, dung lượng 36.148 KB lưu trữ trong thẻ nhớ có dòng chữ H2, dung lượng 8GB theo yêu cầu giám định vào 01 đĩa DVD.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã thu giữ những đồ vật, tài liệu gồm:
01 (một) thẻ nhớ, kèm đầu đọc thẻ nhớ màu xanh.
01 (một) bật lửa màu xanh có dòng chữ HAPHO.CO đã qua sử dụng, tình trạng hiện đã hư hỏng.
09 (chín) cục N2 đã bị cháy đen.
01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, màu đen – vàng, biển kiểm soát 76AD-032.55, số khung RLHJK1406PZ289020, số máy: JK14E0308212, đây là tài sản của anh Trang Ngọc P nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông P theo quy định.
Về dân sự: Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị hại có đơn không yêu cầu bồi thường về dân sự. Bà Lê Thị M cũng không có yêu cầu bồi thường về tài sản là giá trị can nhựa có chứa xăng.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSQNG-P2 ngày 31/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Trang Ngọc L về tội “Giết người” theo điểm n, l khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trang Ngọc L phạm tội “Giết người” theo điểm n, l khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Áp dụng: điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trang Ngọc L từ 18 năm đến 19 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Luận cứ của Luật sư Nguyễn Xuân V bào chữa cho bị cáo Trang Ngọc L:
Thống nhất về tội danh như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo xuất phát từ sự bực tức khi bị anh P dọn đồ ăn khi đang ăn đem ra phía sau, gây ra sự bức xúc cho bị cáo, bị cáo cũng không phải là người thường xuyên sử dụng bạo lực, hành vi của bị cáo không có tính chất côn đồ. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 12 năm đến 13 năm tù là phù hợp.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, bà M đã có lời khai tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 13 giờ 25 phút ngày 29/6/2025, xuất phát từ sự bực tức vì bị T Pháp gom hết đồ ăn, rượu khi đang ăn, uống, Trang Ngọc L qua quán tạp hóa của bà Lê Thị M tự ý lấy 01 can nhựa đựng xăng đem qua nhà ông Trang Ngọc S tưới vào xe mô tô của P và bao giấy vàng mã của chị Trang Thị X để trước sân, L quay về nhà lấy 01 bật lửa, quay lại nhà ông S châm lửa đốt. Khi đám lửa đang cháy, bà Dương Thị N can ngăn và hô hoán thì L tiếp tục cầm can xăng tưới số xăng còn lại lên người bà N và khu vực xung quanh làm cho ngọn lửa bùng cháy lên người bà N, khiến bà N bị cháy toàn thân dẫn đến hậu quả bà N suy đa tạng do bỏng dẫn đến chết vào ngày 21/7/2025.
. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi. Bị cáo biết rõ xăng là chất lỏng dễ cháy, có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng khi tiếp xúc với cơ thể người và gặp nguồn nhiệt. Mặc dù nhận thức được hậu quả có thể xảy ra, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi tạt xăng vào bị hại và tìm cách gây cháy. Hành vi này thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, tài sản của người khác, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là làm bà N chết. Hơn nữa, bà N còn là em dâu của bị cáo và gia đình bị hại cũng không có mâu thuẫn gì với bị cáo. Lúc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì trong nhà bà N, còn có cháu Nguyễn Trang S4 (2009) và Nguyễn An N1 (Sinh năm 2011) là con của chị Trang Thị X đang ngủ. Bị cáo Trang Ngọc L đã sử dụng xăng là chất dễ cháy để đốt nên đây là phương pháp có tính nguy hiểm cao, cháy lan rộng có thể làm chết nhiều người.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” và “Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người”. Do đó, Cáo trạng số 04/CT-VKSQNG-P2 ngày 31/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Trang Ngọc L về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n, l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được áp dụng cho bị cáo.
. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường; chị Trang Thị X, anh Trang Ngọc P và bà Lê Thị M cũng không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Xử lý vật chứng:
- Các vật chứng là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội và những vật không còn giá trị sử dụng, nên tuyên tịch thu, tiêu hủy, gồm:
01 (một) bật lửa màu xanh có dòng chữ HAPHO.CO đã qua sử dụng, tình trạng hiện đã hư hỏng.
09 (chín) cục N2 đã bị cháy đen.
- 01 (một) thẻ nhớ, kèm đầu đọc thẻ nhớ màu xanh lưu cùng hồ sơ vụ án.
. Những vấn đề có liên quan đến vụ án:
Đối vớ i hành vi đốt xe mô tô, vàng mã và hành vi tự ý lấy can xăng của người khác của bị cáo L không đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận và người bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
. Về án phí: Bị cáo Trang Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trang Ngọc L phạm tội “Giết người”.
2. Áp dụng điểm n, l khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trang Ngọc L 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 19/9/2025).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng: 01 (một) bật lửa màu xanh có dòng chữ HAPHO.CO đã qua sử dụng, tình trạng hiện đã hư hỏng; 09 (chín) cục N2 đã bị cháy đen.
Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) thẻ nhớ, kèm đầu đọc thẻ nhớ màu xanh.
(Tất cả các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/02/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi).
4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trang Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - PC02 - CA tỉnh Quảng Ngãi; - Trại tạm giam số 1 - CA tỉnh Quảng Ngãi; - Phòng HSNV - CA tỉnh Quảng Ngãi - THADS tỉnh Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mỹ Giang |