vanban.org

Bản án 30/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Tuyên bố bị cáo Đào Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt Đào Hồng P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/3/2026. 1. Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Hồng P và Trần Viết H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Tuyên bố bị cáo Đào Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- NINH BÌNH
Bản án số: 30/2026/HS - ST
Ngày: 26/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoan, ông Vũ Văn Học

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hà Trang- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 N 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2026/TLST - HS, ngày 25 tháng 5 N 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2026/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 6 N 2026 đối với các bị cáo:

1. Đào Hồng P (Tên gọi khác: Đào Xuân Pg), sinh N 1985, tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số 037085011743; nơi cư trú: tổ dân phố Tr, phường T, tỉnh Ninh Bình (Chỗ ở hiện tại: tổ dân phố Đ, phường T1, tỉnh Ninh Bình); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đình N và bà Đào Thúy A; chưa có vợ, con;

Tiền án: Ngày 29/5/2013, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 N tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: Ngày 10/12/2018, bị Công an phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 05/08/2021, bị Công an xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 17/06/2024, bị Công an phường Tân Bình, thành phố Tam Điệp xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Nhân thân: Ngày 12/3/2003, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 21/12/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 06/5/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”; ngày 07/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 15/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 N 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23/10/2018, bị Công an phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 27/10/2018, bị Công an huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/3/2026 đến ngày 20/3/2026 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

2.Trần Viết H, sinh N 1986, tại tỉnh Ninh Bình; CCCD số 037086011069; nơi cư trú: tổ dân phố D, phường S Sơn, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị L; vợNguyễn Thị Thùy D và 02 con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 26/12/2018, bị Công an phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Nhân thân: ngày 12/07/2002, bị Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình quyết định đưa vào Trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng; ngày 27/01/2010, bị Ủy ban nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng; ngày 28/12/2010, bị Công an phường Nam Sơn, thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 06/12/2013, bị Ủy ban nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Bị hại:anh Phạm Khắc N, sinh N 1983

Trú tại: tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Hồng P, sinh N 1985, trú tại tổ dân phố Trại Vòng, phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình và Trần Viết H, sinh N 1986, trú tại tổ 4D, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình là bạn bè quen biết. P, H không có nghề nghiệp và có nhân thân xấu. Trước ngày 05/3/2026, P cho H mượn chiếc xe mô tô Honda Wave, màu xám bạc số máy HC12E-5062810, số khung RLHHC1215DY063074, biển kiểm soát 35AN-036.76 (P khai xe mua của một người đàn ông không quen biết với giá 1.500.000 đồng). Sáng ngày 05/3/2026, P nhờ H chở xuống Phòng khám đa khoa Trí Đức ở phường Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tháo bột, H đồng ý. Khoảng 9 giờ 00 phút cùng ngày, H điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu xám bạcđeo biển kiểm soát 35AN-036.76 chở P, đi từ nhà P ở xã Quỳnh Lưu, tỉnh Ninh Bình theo đường Quốc lộ 12B xuống phòng khám đa khoa Trí Đức ở phường Tam Điệp tháo bột, khi tới khu vực tổ dân phố 7, phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình, P và H phát hiện thấy bên phải đường, trên vỉa hè trước cửa nhà anh Lê Lâm dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha, màu trắng - đen, biển kiểm soát 35T1-017.33 (xe của anh Phạm Khắc Nam, sinh N 1983, trú tại tổ dân phố Đoài Khê, phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình), chìa khóa vẫn cắm trong ổ khóa. P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Khi H chở P đi qua chiếc xe khoảng 50m, P nói với H lái xe quay lại, H hiểu ý P chở quay lại lấy trộm chiếc xe, nên đã vòng xe chở P quay lại đến gần vị trí chiếc xe của anh Nam, thì dừng lại, P xuống đi bộ đến vị trí xe của anh Nam, còn H điều khiển xe về phía trước cách khoảng 15m dừng lại trên vỉa hè, vẫn nổ máy xe để nếu có ai phát hiện sẽ chở P bỏ chạy. Sau khi xuống xe, P đi bộ đến vị trí để xe, quan sát xung quanh thấy không có người, P ngồi lên yên xe, tay phải cầm chìa khóa điện vặn theo chiều kim đồng hồ nổ máy điều khiển chạy đi, rồi P vẫy tay ra hiệu cho H đi về. Sau khi lấy trộm được chiếc xe mô tô của anh Nam, P điều khiển đi được khoảng 5km tới khu vực chân cầu Vạn Lê thuộc tổ dân phố Vạn Lê, phường Nam Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, thấy không có ai đuổi theo, P dừng lại mở cốp xe kiểm tra bên trong thấy chỉ có 01 bộ dụng cụ sửa chữa xe, P lấy bộ dụng cụ tháo biển số, gương xe, tháo xong tự cởi quần dài và lấy chiếc mũ lưỡi chai đang đội, ném biển số, gương, dụng cụ sửa xe, quần và mũ xuống sông rồi tiếp tục điều khiển xe đi về nhà. Khi về đến nhà P sử dụng tua vít, máy mài điện, giấy nhám và 01 viên đá tự đục xóa số khung và số máy của xe nhằm trốn tránh sự phát hiện của Cơ quan công an. Khoảng 14 giờ cùng ngày P gọi H đến quán nước bên cạnh cửa hàng Thế giới di động ở ngã 3 quân đoàn thuộc phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình, P đưa cho H chiếc xe trộm cắp của anh Nam để H sử dụng và lấy lại chiếc xe màu xám bạcbiển kiểm soát 35AN-036.76 sử dụng, sau đó cả hai đi về. Ngày 07/5/2026, P gặp H ở ngõ 4, phường Trung Sơn, tỉnh Ninh Bình, P lại lấy chiếc xe trộm cắp của anh Nam và đưa chiếc xe nhãn hiệu Honda Wave, màu xám bạc đeobiển kiểm soát 35AN-036.76 của P cho H sử dụng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, rà soát camera an ninh, ngày 11/3/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình tiến hành triệu tập P lên làm việc, biết không thể che dấu hành vi phạm tội của mình, P đã đầu thú và giao 01 xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu trắng đen đã trộm cắp của anh Nam.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Ninh Bình đã thu giữ tại nhà của Đào Hồng P: 01 (một) chiếc tô vít có đặc điểm cán hình trụ tròn bằng nhựa màu vàng đen dài 08 cm đường kính 02 cm; phần mũi thanh kim loại tròn sáng màu dài 10,5 cm đường kính 0,3 cm đầu mũi mỏng dẹt phần rộng nhất 0,5cm; 01 (một) máy mài điện phần thân máy hình trụ tròn vỏ bằng nhựa màu xanh đen dài 30cm, đường kính thân máy 08 cm, phần lưỡi mài hình đĩa tròn mỏng dẹp bằng kim loại sáng màu đường kính 11cm; 01 (một) mảnh giấy nhám hình chữ nhật kích thước 23,5x10 cm, một mặt có in chữ màu xanh, một mặt phủ lớp nhám màu nâu để mài vật liệu; 01 (một) viên đá hình bầu dục màu nâu kích thước 09x05 cm.

Tại bản Kết luận giám định số 1380/KL-KTHS ngày 17/03/2026, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình Kết luận: Số khung, số máy của xe mô tô Honda, loại Wave alpha, màu trắng - đen, không đeo biển số gửi giám định bị tẩy xóa: Không xác định được số khung nguyên thủy của xe; Số máy nguyên thủy của xe xác định được là HC12E-5037761 (trùng khớp với số máy trong đăng ký xe mang tên Phạm Khắc Nam).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2026, Hội đồng định giá tài sản UBND phường Yên Sơn Kết luận: chiếc xe mô tô nêu trên có tại thời điểm ngày 05/3/2026 giá trị 5.500.000 đồng (N triệu, N trăm nghìn đồng).

Trần Viết H, biết P bị Cơ quan điều tra công an tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt giữ, H sợ hãi đã đem chiếc xemô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xám bạcbiển kiểm soát 35AN-036.76 đến gửi ở nhà anh Bùi Văn Phúc, sinh N 1974 ở bản Xăm, xã Phú Long, tỉnh Ninh Bình, anh Phúc tưởng là xe của H nên đồng ý cho gửi. Ngày 17/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ tại nhà anh Bùi Văn Phúc chiếc xe mô tô nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số 1526/KL-KTHS ngày 05/04/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình Kết luận: Số khung, số máy của xe mô tô Honda, số loại Wave a, màu xám bạc, đeo biển số 35AN-036.76 gửi giám định bị tẩy xóa; Số khung nguyên thủy của xe: RLHHC1215DY063074; Số máy nguyên thủy của xe xác định được là HC12E-5062810.

Tại bản kết luận giám định số 2076/KL-KTHS ngày 30/04/2026 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình Kết luận: Biển số xe mô tô 35AN-036.76 gửi giám định không phải do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Tiến hành tra cứu trên hệ thống đăng ký xe toàn quốc với số khung số máy nêu trên xác định: xe mô tô có số khung: RLHHC1215DY063074; Số máy HC12E-5062810, có biển kiểm soát 29G1-317.02, đăng ký mang tên Nguyễn Quốc Hùng sinh N 1961, trú tại thành phố Hà Nội. Tiến hành điều tra xác minh Cơ quan điều tra xác định: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29G1-317.02 là tài sản của anh Nguyễn Quốc Hùng, ngày 01/06/2018, anh Hùng dựng xe ở trước cửa nhà đã bị kẻ gian lấy trộm. Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HDĐGTS ngày 29/4/2026 Hội đồng định giá tài sản UBND phường Yên Sơn Kết luận: Tại thời điểm ngày 01/6/2018 (thời điểm mất trộm) có giá trị 4.500.000 đồng (Bốn triệu N trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 11/CT- VKS ngày 25/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2, Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Đào Hồng P, Trần Viết H về tội “Trộm cắp tài sản”, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Tuyên bố các bị cáo Đào Hồng P, Trần Viết H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Đào Hồng P từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21 (Hai mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 11/3/2026.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Viết H từ 09 (Chín) tháng tù đến 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 20/3/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển kiểm soát 35AN-036.76; 01 (một) chiếc tô vít; 01 (một) mảnh giấy nhám hình chữ nhật; 01 (một) viên đá hình bầu dục màu nâu.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) máy mài điện phần thân máy hình trụ tròn vỏ bằng nhựa màu xanh đen;

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã ra các quết định tố tụng; thực hiện đúng, đầy đủ các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 05/3/2026, Trần Viết H điều khiển xe mô tô đeo biển kiểm soát 35AN-03676 chở Đào Hồng P trên đường Quốc lộ 12B theo hướng Tây Hoa Lư - Yên Sơn đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đi đến Tổ 7, phường Yên Sơn, tỉnh Ninh Bình, P và H thấy trên vỉa hè trước cửa nhà anh Lê Lâm có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 35T1-017.33, trị giá 5.500.000 đồng của anh Phạm Khắc Nam, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, H điều khiển xe chở P đến gần xe của anh Nam, sau đó đỗ trên vỉa hè, cảnh giới, còn P lén lút bí mật lấy trộm chiếc xe của anh Nam rồi cả hai tẩu thoát.

Theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tội trộm cắp tài sản thì

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 N hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 N:

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Đào Hồng P, Trần Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự; bị cáo Đào Hồng P, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đào Hồng P đã bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Viết H phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tội danh, loại, mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, bị cáo Đào Hồng P là người khởi xướng, thực hiện hành vi phạm tội một các tích cực, đồng thời dùng các thủ đoạn để che dấu vết tội phạm, cho thấy tính chất hành vị phạm tội của bị cáo nguy hiểm hơn bị cáo Trần Viết H, nên khi lượng hình cần xử bị cáo mức hình phạt cao hơn. Xét các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Đào Hồng P đã từng nhiều lần bị kết án, xử lý hành chính, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm; bị cáo Trần Viết H là người có tiền sự và nhân thân nhiều lần bị xử lý hành chính, các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy P, H là người khó giáo dục cải tạo, vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giám sát giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Khi lượng hình, cần xem xét, các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo Đào Hồng P ra đầu thú để giảm một phần mức hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Đào Hồng P, Trần Viết H không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Cơ quan công an đã thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave alpha trả cho người bị hại (anh Phạm Khắc Nam), anh Nam không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại đã xảy ra nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) biển kiểm soát 35AN-036.76; 01 (một) chiếc tô vít; 01 (một) mảnh giấy nhám hình chữ nhật; 01 (một) viên đá hình bầu dục, là công cụ P tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối 01 (một) máy mài điện, thân hình trụ, vỏ nhựa, lưỡi hình đĩa tròn mỏng dẹp bằng kim loại sáng màu đường kính 11cm là công cụ P tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[7] Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ của Đào Hồng P 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, màu xám bạc mà H và P dùng làm P tiện phạm tội, P khai mua của một người không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch với giá 1.500.000 đồnglà tài sản của anh Phạm Quốc Hùng bị mất ngày 1/6/2018. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh Hùng. Đối với vụ việc, ngày 01/6/2018, anh Nguyễn Quốc Hùng bị kẻ gian lấy trộm chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29G1-317.02, trị giá 4.500.000 đồng nhưng không trình báo với Cơ quan điều tra, thời điểm Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình phát hiện, vụ việc đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Ninh Bình không tách tài liệu, chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

1.1. Tuyên bố bị cáo Đào Hồng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.2. Xử phạt Đào Hồng P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 11/3/2026.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

2.1. Tuyên bố bị cáo Trần Viết H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.2. Xử phạt Trần Viết H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 20/3/2026.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 35AN-036.76 (Biển không do cơ quan có thẩm quyền cấp); 01 (một) chiếc tô vít có đặc điểm cán hình trụ tròn bằng nhựa màu vàng đen dài 08 cm đường kính 02 cm; phần mũi thanh kim loại tròn sáng màu dài 10,5 cm đường kính 0,3 cm đầu mũi mỏng dẹt phần rộng nhất 0,5cm; 01 (một) mảnh giấy nhám hình chữ nhật kích thước 23,5x10 cm, một mặt có in chữ màu xanh, một mặt phủ lớp nhám màu nâu để mài vật liệu; 01 (một) viên đá hình bầu dục màu nâu kích thước 09x05 cm.

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) máy mài điện phần thân máy hình trụ tròn vỏ bằng nhựa màu xanh đen dài 30cm, đường kính thân máy 08 cm, phần lưỡi mài hình đĩa tròn mỏng dẹp bằng kim loại sáng màu đường kính 11cm.

(Cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 06 N 2026, giữa Công an tỉnh Ninh Bình và Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 N 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Đào Hồng P, Trần Viết H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án”.

Cỡ chữ