vanban.org

Bản án 30/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 20/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Võ Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Võ Hoàng Ph phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Án xử sơ thẩm công khai, Bị cáo Ph có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng Ph phạm tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Võ Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HS-ST
Ngày: 20-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.

Bà Lương Thị Thu Hà.

2.

Ông Nguyễn Văn Sở.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Hoàng Ph, sinh năm 1984. Giới tính: Nam. Nơi sinh: Long An (nay là Tây Ninh). Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 105/22 đường Trần Văn Đấu, khu phố A, phường B, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Võ Hoàng V, sinh năm 1966 và bà Lê Thị H, sinh năm 1966 (đã chết). Bị cáo có vợ Phùng Thị Mai Tr (đã ly hôn), có con là Võ Hoàng H, sinh năm 2006 và Võ Huỳnh Thiên B, sinh năm 2016.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 24/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 102/HSST, ngày 24/07/2024. Chấp hành án tại trại giam Tống Lê Chân. Chấp hành án xong vào ngày 20/02/2025.

Nhân thân: Ngày 05/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 100/HSST, ngày 05/9/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/10/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Tân An và có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1.

Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số 105/14 đường Trần Văn Đấu, khu phố A, phường B, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

2.

Bà Võ Thị Ch, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số 105/1 đường Trần Văn Đấu, khu phố A, phường B, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lý Quốc C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Số 364 khu phố C, phường B, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

2. Ông Thái Thanh T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp 4, xã A, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965; Địa chỉ: 156/12B Huỳnh Việt Thanh, phường D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 27/7/2025, bị cáo Võ Hoàng Ph đi bộ từ nhà tại địa chỉ số 105/22 đường Trần Văn Đẩu, phường Khánh Hậu, tỉnh Tây Ninh, để mua mì tôm. Khi gần tới đầu hẻm thì thấy trước sân nhà bà Nguyễn Thị Kim D, có một xe tự chế kim loại (loại gắn sau xe mô tô dùng để kéo các vật dụng), trên xe tự chế có một giá võng kim loại, một lồng kim loại bằng sắt và một thau bằng nhôm. Bị cáo Ph quan sát thấy không có người nên đi vào sân lấy một thau nhôm bỏ xuống đất, kéo xe và các vật dụng trên xe về nhà cất giấu.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Bị cáo Ph tiếp tục đi bộ ra đường Trần Văn Đấu thì phát hiện trong nhà của bà Võ Thị Ch tại địa chỉ số 105/1 có một xe mô tô Honda super Dream biển kiểm soát 62K4-4074, chìa khóa xe vẫn cắm trong ổ khóa. Bị cáo Ph đi bộ tới gần xe quan sát, không thấy người, Ph dẫn xe ra ngoài, khởi động máy và điều khiển xe khỏi hiện trường. Bị cáo Ph điều khiển xe đến xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh thì cầm xe tại tiệm cầm đồ không bảng hiệu (gần chợ Bến Lức) giá 700.000 đồng. Khoảng 15 ngày sau Bị cáo Ph đến tiệm cầm đồ trên chuộc xe ra với giá 850.000 đồng rồi đem về nhà cất giấu. Sau đó, Bị cáo Ph cầm xe cho ông Nguyễn Văn D giá 650.000 đồng. Sau khi cầm xe Bị cáo Ph không chuộc nên ông Dũng đã bán cho Thái Thanh T (có tên gọi khác là Mèo) với giá 3.000.000 đồng. T đã lấy phụ tùng bán trên mạng, còn khung xe đã bán cho người mua ve chai dạo.

Đến ngày 30/7/2025, Bị cáo Ph đến vựa phế liệu gặp ông Trần Sử L chủ vựa phế liệu trao đổi việc Bị cáo Ph có đồ phế liệu cần bán, Bị cáo Ph yêu cầu ông L đến nơi để phế liệu xem, sau đó ông L chở Bị cáo Ph đến nơi để phế liệu, xem xong ông L đồng ý mua. Ông L kéo phế liệu về, khi chuẩn bị cân để tính tiền thì Bị cáo Ph phát hiện bà D đến vựa ve chai nên Bị cáo Ph đi vòng ra sau bỏ trốn.

Qua xác minh, Cơ quan CSĐT mời bị cáo Võ Hoàng Ph làm việc, Ph đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08 ngày 26/11/2025 của Hội đồng định giá phường B, kết luận: giá trị một xe mô tô hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS 62K4-4074, đã qua sử dụng có giá trị là 9.400.000 đồng; một xe tự chế bằng kim loại sắt; một giá võng bằng kim loại sắt; một lồng kim loại sắt có giá trị là 545.983 đồng.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS-KV1 ngày 28/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh đã truy tố bị cáo Võ Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội bà Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điều 38; Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Hoàng Ph từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị Kim D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên không xem xét.

Bà Võ Thị Ch đã nhận của ông Thái Thanh T số tiền bồi thường thiệt hại tài sàn là 8.000.000 đồng, bà Chính không yêu cầu bồi thường bồi thường thêm. Ông Tùng không có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo tranh luận xin giảm nhẹ hình phạt, lời nói sau cùng bị cáo biết hành vi của mình là sai trái nên xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim D, bà Võ Thị Ch, ông Lý Quốc C, ông Thái Thanh T, ông Nguyễn Văn D không rõ lý do nhưng đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra, đồng thời việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời còn phù hợp với biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, sơ đồ hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 27/7/2025, bị cáo Võ Hoàng Ph đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Kim D, gồm một xe lôi bằng sắt, một giá võng bằng sắt, một lồng bằng sắt có giá trị là 545.983 đồng; đến 13 giờ cùng ngày, Bị cáo Ph tiếp tục lấy trộm của bà Võ Thị Ch một xe mô tô Honda Dream BKS 62K4-4074 có giá trị 9.400.000 đồng. Tổng số tài sản mà bị cáo Võ Hoàng Ph trộm được có giá trị là 9.945.983 đồng.

Bị cáo Võ Hoàng Ph là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, nhưng nhằm mục đích có tiền tiêu xài cá nhân mà không bỏ công sức lao động bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây mất an ninh, trật tự ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Ngoài ra, Bị cáo Ph có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” ngày 24/7/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù theo Bản án số 102/HSST ngày 24/7/2024, chấp hành án tại trại giam Tống Lê Chân, chấp hành án xong vào ngày 20/02/2025, bị cáo phạm tội 02 lần nên khi quyết định hình phạt bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ph đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Nguyễn Thị Kim D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự nên không đề cập giải quyết.

Bà Võ Thị Ch đã nhận của ông Thái Thanh T số tiền bồi thường thiệt hại tài sàn là 8.000.000 đồng, bà Ch không yêu cầu bồi thường bồi thường thêm. Ông T không có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, có thu giữ:

01 (một) xe tự chế bằng kim loại (chiều dài: 1,70m, chiều cao: 0,60m, chiều rộng: 0,60m, bánh xe đường kính: 0,55m); 01 (một) giá võng bằng kim loại kích thước (1,90 x 0,80 x 0,81)m; 01 (một) lồng bằng kim loại kích thước (1,10 x 0,53 x 0,60)m. Hiện đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim D là phù hợp.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh xác định bị can Võ Hoàng Ph có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và có hành vi sử dụng 02 xe mô tô không có giấy chứng nhận làm phương tiện đi lại, các hành vi trên không thuộc thẩm quyền giải quyết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tây Ninh đã có công văn gửi chuyển đến Công an phường B, tỉnh Tây Ninh để xử lý theo quy định là phù hợp.

Đối với Nguyễn Văn D, Thái Thanh T không biết tài sản mua của bị can Võ Hoàng Ph là tài sản trộm mà có nên chưa đủ căn cứ để buộc tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.

Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh đã phản ánh đúng hành vi mà Bị cáo Ph đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của bà Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Buộc Bị cáo Ph phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Võ Hoàng Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Hoàng Ph 02 (Hai) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 17/10/2025.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Hoàng Ph 45 ngày kể từ ngày tuyên án 20/3/2026 để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo Võ Hoàng Ph phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai, Bị cáo Ph có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/3/2026). Bà Nguyễn Thị Kim D, bà Võ Thị Ch, ông Lý Quốc C, ông Thái Thanh T, ông Nguyễn Văn D vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ