vanban.org

Bản án 30/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trương Thị Mỹ X và ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N sinh ngày 10/9/2008 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Nguyễn Tuấn K sinh ngày 10/9/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà X không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn X-T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trương Thị Mỹ X và ông Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5-VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 30/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 24/02/2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con giữa bà X và ông T”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG-TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Em

2. Bà Đinh Thị Thanh Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 259/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2026/QĐXX-ST ngày 26 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ X, sinh năm: 1984.

Số Căn cước công dân: A

Địa chỉ: B, ấp P, xã L, tỉnh Đồng Tháp.

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987.

Số Căn cước công dân: B

Địa chỉ: B, khu phố B, phường B, tỉnh Vĩnh Long

Bà X yêu cầu giải quyết vắng mặt, Ông T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2025, Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, Đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 08/12/2025, nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ X trình bày:

Bà và ông T kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 28/12/2007 do tự nguyện. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên bất hòa, không còn tin tưởng lẫn nhau. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay tình cảm giữa bà và ông T không còn nên bà xin ly hôn với ông T.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N và Nguyễn Tuấn K cùng sinh ngày 10/9/2008. Hiện cháu N đang sống cùng bà và cháu K đang sống cùng ông T. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Ngọc Xuân N, ông T nuôi cháu Nguyễn Tuấn K. Bà không cấp dưỡng nuôi con cũng không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đương sự để triệu tập ông Nguyễn Văn T tới Tòa án để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông Nguyễn Văn T không đến, do đó Tòa án không thể lấy lời khai của ông T cũng như không tiến hành hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn được

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long có ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ X

- Về hôn nhân: bà Trương Thị Mỹ X được ly hôn với ông Nguyễn Văn T

- Về con chung: bà X được nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N sinh ngày 10/9/2008, ông T được nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn K sinh ngày 10/9/2008. Bà X và ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét

- Án phí theo quy định pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ X khởi kiện xin ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn T và yêu cầu được nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp giữa bà Trương Thị Mỹ X và ông Nguyễn Văn T “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; hiện nay, ông T đang cư trú tại phường B, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ X có Đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ X và bị đơn ông Nguyễn Văn T

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà X và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 28/12/2007 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà X, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2020 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên bất hòa, không còn tin tưởng lẫn nhau. Bà và ông T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay tình cảm giữa bà và ông T không còn nên bà xin ly hôn với ông T. Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long đã mở phiên hòa giải nhiều lần để động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng của bà X và ông T nhưng ông T vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà X. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà X.

Về con chung: bà X và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N và Nguyễn Tuấn K cùng sinh ngày 10/9/2008. Bà X có yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N sinh ngày 10/9/2008, ông T nuôi con chung tên Nguyễn Tuấn K sinh ngày 10/9/2008. Xét thấy, cháu N hiện đang sống chung với bà X, cháu K đang sống với ông T có cuộc sống, sinh hoạt, học tập ổn định. Tại biên bản hỏi ý kiến con chung ngày 08/12/2025, cháu N có nguyện vọng được sống chung với bà X, cháu K có nguyện vọng sống chung với ông T. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X, giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Xuân N cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung là cháu Nguyễn Tuấn K cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận bà X không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Đối với ông T do không có yêu cầu trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp có tranh chấp về cấp dưỡng ông T được quyền khởi kiện vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: bà X khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về án phí: căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bà X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng.

Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

- Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trương Thị Mỹ X và ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Xuân N sinh ngày 10/9/2008 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Nguyễn Tuấn K sinh ngày 10/9/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận bà X không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: bà X khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà X phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003833 ngày 01 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ