vanban.org

Bản án 30/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu N ly hôn với anh Trịnh Văn T. Về con chung: Giao ba người con chung tên Trịnh Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 31/7/2016, Trịnh Quốc V (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2019 và Trịnh Ngọc Á (giới tính nữ), sinh ngày 18/9/2021 cho chị Đặng Thị Thu N tiếp tục …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 30/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 23 - 01 - 2026
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Minh Hoàng.

Ông Trần Hoàng Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau.

Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 514/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 631/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thu N, sinh năm 1998 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số A P, xã L, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn: Anh Trịnh Văn T, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/12/2025, cùng các văn bản kèm theo chị Đặng Thị Thu N trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu N và anh Trịnh Văn T thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã L, tỉnh Vĩnh Long) ngày 03/4/2017. Đến ngày 20/10/2020 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Hiện nay chị không còn tình cảm dành cho anh Trịnh Văn T và không thể tiếp tục sống cùng anh Trịnh Văn T. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị cương quyết yêu cầu ly hôn anh Trịnh Văn T.

Về con chung có ba người con chung tên Trịnh Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 31/7/2016, Trịnh Quốc V (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2019 và Trịnh Ngọc Á (giới tính nữ), sinh ngày 18/9/2021. Hiện ba người con chung đang do chị N nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng ba người con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do ở xa nên việc đi lại khó khăn, chị Đặng Thị Thu N xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.

Anh Trịnh Văn T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng anh T vẫn không tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Trịnh Văn T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng anh Trịnh Văn T vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

Chị Đặng Thị Thu N xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Thu N và anh Trịnh Văn T chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi. Chị Đặng Thị Thu N xác định không còn tình cảm dành cho anh T nên chị Đặng Thị Thu N cương quyết ly hôn. Cả hai không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Đặng Thị Thu N và anh Trịnh Văn T không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa chị Đặng Thị Thu N và anh Trịnh Văn T đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của chị Đặng Thị Thu N, anh Trịnh Văn T không có ý kiến gì, anh T cũng không tham hòa giải thể hiện ý chí không mong muốn đoàn tụ gia đình. Xét cho chị Đặng Thị Thu N ly hôn với anh Trịnh Văn T là có cơ sở.

[3] Về con chung: Có ba người con chung tên Trịnh Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 31/7/2016, Trịnh Quốc V (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2019 và Trịnh Ngọc Á (giới tính nữ), sinh ngày 18/9/2021. Hiện ba người con chung đang do chị N nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị N yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng ba người con chung. Mặt khác, cháu Trịnh Ngọc B có nguyện vọng sống cùng với chị N. Quá trình giải quyết vụ án anh Trịnh Văn T không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con của chị N. Xét thấy, để không làm xáo trộn đời sống của các cháu, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Thu N giao Trịnh Ngọc B, Trịnh Quốc V và Trịnh Ngọc Á cho chị Đặng Thị Thu N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị Thu N không yêu cầu anh Trịnh Văn T cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Thu N phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đặng Thị Thu N ly hôn với anh Trịnh Văn T.

2. Về con chung: Giao ba người con chung tên Trịnh Ngọc B (giới tính nữ), sinh ngày 31/7/2016, Trịnh Quốc V (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2019 và Trịnh Ngọc Á (giới tính nữ), sinh ngày 18/9/2021 cho chị Đặng Thị Thu N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trịnh Văn T ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Anh Trịnh Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng. Chị Đặng Thị Thu N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006088 ngày 09/12/2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Chị Đặng Thị Thu N và anh Trịnh Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ