vanban.org

Bản án 30/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ba nhung cuong"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12/02/2026
V/v “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Đức Cảnh

Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Minh Toàn

Ông Hoàng Trọng Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Lương Bằng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2026/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị N, sinh ngày 10/8/1989; địa chỉ: thôn Ô, xã T, tỉnh Quảng Trị; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Đinh Việt C, sinh ngày 12/7/1986; địa chỉ: thôn Ô, xã T, tỉnh Quảng Trị; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C tìm hiểu và tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân H1, huyện M, tỉnh Quảng Bình (nay là xã T, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 18/9/2018. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến đời sống riêng của nhau. Do không còn tình cảm vợ chồng với anh C, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N làm đơn xin ly hôn anh C.

- Về con chung: Chị N và anh C có 02 con chung tên Đinh Thiên H, sinh ngày 04/9/2019 và Đinh Thanh T, sinh ngày 05/5/2021, hiện tại con chung đang sống với anh C. Khi ly hôn, chị N giao hai con cho anh C chăm sóc nuôi dưỡng và cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đ/con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đinh Việt C vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, các Điều 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị N. Về quan hệ hôn nhân: chị N được ly hôn với anh C. Về con chung: giao 02 con chung là Đinh Thiên H, sinh ngày 04/9/2019 và Đinh Thanh T, sinh ngày 05/5/2021 cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đ/con. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Cao Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con chung khi ly hôn với anh Đinh Việt C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Anh C có đăng ký thường trú tại thôn Ô, xã T, tỉnh Quảng Trị nên Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị N trình bày vợ chồng chị chung sống không hạnh phúc do hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên bất đồng ý kiến, hay cãi vã giữa hai vợ chồng, hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian sống chung, chị N và anh C bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý cho anh C nhưng anh C không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị N, anh C hiện đang sinh sống tại thôn Ô, xã T, tỉnh Quảng Trị, Tòa án cũng đã làm việc với anh C nhưng anh C không hợp tác với Tòa án trong việc giải quyết vụ án. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị N và anh C là trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh C theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị N và anh C có hai con chung là Đinh Thiên H, sinh ngày 04/9/2019 và Đinh Thanh T, sinh ngày 05/5/2021. Khi ly hôn, chị N giao hai con cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị N và anh C ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị N thì hai con hiện nay đang sống với anh C, quá trình chung sống với anh C cháu đều phát triển tốt và được đi học đầy đủ. Để ổn định cuộc sống của con chung, giúp con chung phát triển tốt nhất về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy giao hai con chung cho anh C chăm sóc, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, quá trình giải quyết vụ án, chị N giao con cho anh C và cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đ/con cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy: Anh C là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên chị N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Mức cấp dưỡng mà chị N đưa ra phù hợp mức cấp dưỡng quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Để đảm bảo các khoản chi phí chăm sóc con, nuôi dưỡng con nên buộc chị N cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đ/tháng/con cho đến khi hai con đủ 18 tuổi. Nên chấp nhận yêu cầu về mức cấp dưỡng nuôi con của chị N.

Về phương thức cấp dưỡng: Hàng tháng.

Về thời điểm cấp dưỡng: Từ khi tuyên án (tháng 02/2026) cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Đối với quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí: Chị Cao Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chị N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Các điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị N.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị N với anh Đinh Việt C.

1.2. Về quan hệ con chung: Giao hai con chung là Đinh Thiên H, sinh ngày 04/9/2019 và Đinh Thanh T, sinh ngày 05/5/2021 cho anh Đinh Việt C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con là Đinh Thiên H, sinh ngày 04/9/2019 và Đinh Thanh T, sinh ngày 05/5/2021 mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 con; phương thức cấp dưỡng: hàng tháng; thời gian cấp dưỡng kể từ khi tuyên án sơ thẩm (tháng 02/2026) cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom đển cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con thì cha, mẹ trực tiếp nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

1.3. Về quan hệ tài sản chung: Không có nên không xét.

1.4. Về quan hệ nợ chung: Không có nên không xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai số 0000305 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

Chị Cao Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ