vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Đinh Gia T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.

Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Gia T và hình dấu Công an P1, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Gia T - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Đinh Gia T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS - ST
Ngày: 28/3/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thanh Nga

2. Bà Đinh Kim Hoàng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Vũ –Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/TLST – HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2025/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Gia T, (tên gọi khác: T1), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1973 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C Bis X, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số E Đ, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Đinh Thị H, sinh năm 1955; có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm 1981 (đã ly hôn) và có 01 (một) con chung sinh năm 1999; tiền án: 06 - Ngày 18/8/1992 bị Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 27/12/1994 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/02/1997. Ngày 11/3/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2001. Ngày 02/5/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2010. Ngày 12/5/2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Chí Minh xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2017. Ngày 31/01/2018 bị Tòa án nhân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2024; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/08/2024. “Có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số I L, Phường E, Quận F - Thành phố Hồ Chí Minh. „Vắng mặt”

2/ Bà Lê Thị Ngọc Q, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A T, Phường A, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 30/8/2024, Đinh Gia T điều khiển xe môtô Honda Vario màu đỏ – trắng, biển số 59C3– 208.34 đến trước số F P, Quận H - Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, T gặp người phụ nữ (chưa rõ lai lịch) mua 01(một) gói nylon chứa ma túy “đá” giá 900.000 (chín trăm nghìn) đồng, cất giữ trong túi quần jeans phía sau bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến 16 giờ 25 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe Honda Vario biển số 59C3– 208.34 đến trước số B K, Phường C, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra Công an Q1 yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện trong túi quần jeans phía sau bên trái T đang mặc có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể màu trắng nghi vấn là ma túy nên đã tiến hành thu giữ vật chứng, đưa T cùng vật chứng về Trụ sở Công an P, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tiến hành thử nhanh, T dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Gia T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T tại trước số F P, Quận H - Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này, khi nào xác định được Cơ quan điều tra xử lý sau.

Tại Kết luận giám định số: 10283/KL – KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Gia T và hình dấu Công an P1, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,7846g (không phẩy bảy tám bốn sáu) gam, loại Methamphetamine.

Đối với xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đỏ – trắng, biển số 59C3–208.34, số khung: MH1KF4125MK201637, số máy: KF41E2205762 do Đinh Gia T sử dụng đi mua ma túy, qua xác minh do ông Nguyễn Hồng Đ đứng tên đăng ký xe. Ngày 27/10/2021, ông Đ đã bán xe cho bà Lê Thị Ngọc Q. Ngày 30/8/2024, bà Q đưa xe cho T để nhờ đem đi sửa giùm. Xét, bà Lê Thị Ngọc Q không biết việc bị cáo T sử dụng xe gắn máy để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã không xử lý đối với bà Q và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy nêu trên cho bà Lê Thị Ngọc Q.

Vật chứng vụ án:

(1) 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Gia T và hình dấu Công an P1, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

(2) 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus, màu đen là điện thoại cá nhân của Đinh Gia T.

Tại Cáo trạng số 43/CT –VKSQ4 ngày 19/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đinh Gia T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo có lời khai thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Kết luận điều tra và Cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Hồng Đ và bà Lê Thị Ngọc Q vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra do bà Q không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q1 đã ra quyết định xử lý vật chứng và giao trả lại xe gắn máy cho bà Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Gia T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đinh Gia T từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 16 giờ 25 phút ngày 30/8/2024 tại trước số B K, Phường C, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đinh Gia T có hành vi cất giữ 0,7846g (không phẩy, bảy tám bốn sáu) gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo Đinh Gia T đã phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Gia T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo v n cố ý thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường trật tự xã hội của bị cáo. Về nhân thân của bị cáo rất xấu, bị cáo có 06 (sáu) tiền án liên quan đến các tội Trộm cắp tài sản, Cướp giật tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo vừa mới chấp hành xong hình phạt tù trở về ngày 24/01/2024 nhưng không thay đổi bản thân để trở thành người tốt có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án nghiêm khắc hơn để xử phạt bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 do đó khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Ngoài ra, xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 dành cho bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự.

Đối với xe gắn máy hiệu Honda Vario màu đỏ – trắng, biển số 59C3–208.34, số khung: MH1KF4125MK201637, số máy: KF41E2205762 do Đinh Gia T sử dụng đi mua ma túy, qua xác minh do ông Nguyễn Hồng Đ đứng tên đăng ký xe. Ngày 27/10/2021, ông Đ đã bán xe cho bà Lê Thị Ngọc Q. Ngày 30/8/2024, bà Q đưa xe cho bị cáo T để nhờ đem đi sửa giùm. Xét, bà Lê Thị Ngọc Q không biết việc bị cáo T đã sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Lê Thị Ngọc Q và ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy nêu trên cho bà Q, là phù hợp với quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

(1) 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Gia T và hình dấu Công an P1, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, ma túy là chất độc hại không sử dụng được và cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

(2) 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng, là điện thoại cá nhân của bị cáo Đinh Gia T. Xét, đây là tài sản cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên giao trả lại cho Đinh Gia T3, nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Gia T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Đinh Gia T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 8 năm 2024.

Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Gia T và hình dấu Công an P1, Quận D - Thành phố Hồ Chí Minh, bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

+ Giao trả lại cho Đinh Gia T: 01 (một) điện thoại Iphone 8 Plus, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số: 51/2025 ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh).

- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án:

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Gia T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

- Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Gia T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ