vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 13/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc P - phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày: 13-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tố;

Bà Phạm Hoàng Diễm My.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chánh Thân – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc P; tên gọi khác: không; sinh ngày 29 tháng 5 năm 2007 tại tỉnh GL; Nơi cư trú: Khu phố Túy Th, phường HNB, tỉnh GL; Số Căn cước công dân: 052207013xxx; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H (sinh năm 1977); con bà Cao Thị K (sinh năm 1980); vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

- Ngày 17/9/2021, bị Công an xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, về hành vi trộm cắp tài sản;

- Ngày 11/02/2022 và ngày 29/9/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, về hành vi trộm cắp tài sản;

- Ngày 17/02/2023, bị Công an thị xã Hoài Nhơn (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, về hành vi trộm cắp tài sản;

- Ngày 28/02/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn (cũ) ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi trộm cắp tài sản, thời hạn 03 tháng, chấp hành xong vào ngày 01/6/2023;

- Ngày 21/4/2022, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Hoài Phú, thị xã Hoài Nhơn (cũ) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo, về hành vi trộm cắp tài sản;

- Ngày 14/12/2023, bị Công an thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng, về hành vi xâm nhập vào khu vực nhà ở thuộc quyền quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản (đã nộp phạt xong vào ngày 19/12/2023);

- Ngày 29/01/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (cũ) xử phạt 04 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 31/01/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (cũ) xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt là 13 tháng tù, chấp hành xong án xong ngày 30/12/2024 (được coi là không có án tích);

- Ngày 31/7/2025, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố bị can về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

- Ngày 03/9/2025, bị Công an tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản (đập bể 02 con heo đất của ông Võ Hoài Ch và bà Trần Thị Hồng L trong vụ án, bị cáo chưa nộp phạt).

Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Hoài Nhơn trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Vợ chồng ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1977, bà Cao Thị K, sinh năm 1980, cùng địa chỉ: Khu phố Túy Th, phường hnb, tỉnh GL (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Hồng S – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai (có mặt).

- Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966

Địa chỉ: Khu phố Ngọc Sơn B, phường HN, tỉnh GL (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bà Đào Thị L, sinh năm 1956

Địa chỉ: Khu phố Ngọc Sơn B, phường HN, tỉnh GL (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

3. Ông Võ Hoài Ch, sinh năm 1995

Địa chỉ: Khu phố Thành Sơn T, phường TQ, tỉnh GL (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

4. Bà Trần Thị Hồng L1, sinh năm 1989

Địa chỉ: Khu phố Thành Sơn T, phường TQ, tỉnh GL (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Cao Thị K, sinh năm 1980

Địa chỉ: Khu phố Túy Th, phường HNB, tỉnh GL (có mặt).

2. Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1977

Địa chỉ: Khu phố Túy Th, phường HNB, tỉnh GL (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài cá nhân, từ ngày 08/3/2025 đến ngày 05/5/2025, Phạm Ngọc P đã 03 lần thực hiện trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Hoài Nhơn và phường Tam Quan, tỉnh Gia Lai, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Sáng ngày 08/3/2025, Phạm Ngọc P điều khiển xe mô tô biển số 76V7-2377 của mẹ ruột là bà Cao Thị K (sinh năm 1980, ở khu phố Túy Th, phường HNB, tỉnh GL) đi tìm nhà dân có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ 23 phút cùng ngày, P thấy nhà bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966 và nhà bà Đào Thị L, sinh năm 1956 (cùng ở khu phố Ngọc Sơn B, phường HN, tỉnh GL) không có ai trông coi nên chọn đột nhập vào nhà. P để xe mô tô phía sau nhà bà X, trèo qua hàng rào lưới B40, đi từ phía sau lên phía trước, dùng tay kéo mạnh làm bung chốt cửa chính rồi đi vào phía trong lục tìm tài sản, lấy của bà X số tiền 740.000 đồng để dưới chiếc chiếu trên giường gỗ và 400.000 đồng trong túi xách treo trên móc tường rồi mở cửa phía sau thoát ra ngoài. Sau đó, P tiếp tục qua nhà của bà Đào Thị L, đi vòng sát tường rào đến rút nguồn điện camera, dùng tay giật mạnh làm bung chốt cửa gỗ bên hông nhà của bà L rồi đi vào phòng ngủ, P dỡ tấm nệm trên đầu tủ thì thấy 01 bịch nhựa màu đỏ chứa 02 bao lì xì màu đỏ, P lấy toàn bộ số tiền 39.000.000 đồng để bên trong 01 bao lì xì bỏ vào túi quần, 01 bao lì xì còn lại thì P để vào vị trí cũ rồi tẩu thoát.

Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ ngày 24/4/2025, P điều khiển xe mô tô biển số 77C1-016.72 của cha ruột là ông Phạm Ngọc H (sinh năm 1977, ở khu phố Túy Th, phường HNB, tỉnh GL) đến nhà ông Võ Hoài Ch (sinh năm 1995, ở khu phố Thành Sơn T, phường TQ, tỉnh GL). P đẩy mạnh làm bung cửa gỗ phía sau nhà, đi vào phòng ngủ đập bể 01 heo đất màu vàng, lấy số tiền 5.800.000 đồng có trong heo đất bỏ vào túi quần jean rồi tẩu thoát.

Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/5/2025, P điều khiển xe mô tô 77C1-016.72 đi đến nhà bà Trần Thị Hồng L1 (sinh năm 1989, ở khu phố Thành Sơn T, phường TQ, tỉnh GL). P đẩy cửa gỗ phía sau đi vào trong nhà, rút nguồn điện và tháo mắt camera để xuống nền, dùng kìm bên cạnh đập bể 01 heo đất màu đỏ, lấy số tiền 3.000.000 đồng có trong heo đất bỏ vào túi áo khoác đang mặc. P tiếp tục tìm kiếm, lấy 500.000 đồng trong túi áo khoác của bà L1 treo gần cửa rồi tẩu thoát.

Theo kết luận định giá số 114/KL-HĐĐGTTHS ngày 20/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Định (cũ): 01 heo đất màu đỏ của bà Trần Thị Hồng L1 có giá trị 15.000 đồng; 01 heo đất màu vàng của ông Võ Hoài Ch có giá trị 80.500 đồng.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ, sau đó trả lại cho bà Cao Thị K xe mô tô biển số 76V7-2377; ông Phạm Ngọc H xe mô tô 77C1-016.72; ông Võ Hoài Ch 01 heo đất màu vàng đã bị vỡ; bà Trần Thị Hồng L1 01 heo đất màu đỏ đã bị vỡ và 01 cái kìm bấm cành cây.

Hiện còn đang tạm giữ: 01 bao lì xì bằng giấy màu đỏ, 01 quần jean, 01 áo khoác, 01 khẩu trang y tế, 01 đôi dép (đặc điểm như mô tả trong biên bản tạm giữ có tại hồ sơ vụ án) và 02 USB nhãn hiệu CUSIGLE có chứa các đoạn video liên quan đến vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Ngọc P đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị X số tiền 1.140.000 đồng; bà Đào Thị L số tiền 39.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng L1 và ông Võ Hoài Ch không yêu cầu.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm Ngọc P có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên.

Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSKV6 ngày 28/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai truy tố bị cáo Phạm Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Ngọc P đã thừa nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên xử phạt bị cáo Phạm Ngọc P mức án từ 18 đến 21 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Cao Thị K xe mô tô biển số 76V7-2377; ông Phạm Ngọc H xe mô tô 77C1-016.72; ông Võ Hoài Ch 01 heo đất màu vàng đã bị vỡ; bà Trần Thị Hồng L1 01 heo đất màu đỏ đã bị vỡ và 01 cái kìm bấm cành cây.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bao lì xì bằng giấy màu đỏ, 01 quần jean, 01 áo khoác, 01 khẩu trang y tế, 01 đôi dép (đặc điểm như mô tả trong biên bản tạm giữ có tại hồ sơ vụ án);

+ Riêng 02 USB nhãn hiệu CUSIGLE có chứa các đoạn video liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Người bào chữa cho bị cáo là ông Phan Hồng S - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai trình bày: Ông thống nhất với tội danh như đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, tuy nhiên, thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo, đề nghị mức hình phạt cho bị cáo là 18 tháng tù. Mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy lời khai của những người này đã có tại hồ sơ, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vì để có tiền để tiêu xài cá nhân, vào các ngày 08/3/2025, 24/4/2025 và 05/5/2025, Phạm Ngọc P đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị X số tiền 1.140.000 đồng, bà Đào Thị L số tiền 39.000.000 đồng; ông Võ Hoài Ch số tiền 5.800.000 đồng và bà Trần Thị Hồng L1 số tiền 3.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự của địa phương, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy bài học đó để rút kinh nghiệm mà lại tái phạm. Do đó, cần phải xử mức án nghiêm khắc để bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt cho xã hội và làm gương cho những người khác.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo Phạm Ngọc P tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và Luật tư pháp người chưa thành niên để quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 quần jean dài màu xám; 01 áo khoác dài tay màu xanh đen, phía sau có dòng chữ “Panasonic”, phía trước bên trái có in dòng chữ “Panasonic”; 01 khẩu trang y tế màu xám; 01 đôi dép bằng da quai trùm, có đế màu đen, quai dép sọc caro; 01 bao lì xì bằng giấy, màu đỏ có kích thước (18x9)cm;

+ 02 USB nhãn hiệu CUSIGLE có chứa các đoạn video liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Ngọc P đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị X số tiền 1.140.000 đồng; bà Đào Thị L số tiền 39.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng L1 và ông Võ Hoài Ch không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các vấn đè khác của vụ án:

- Đối với bà Cao Thị K và ông Phạm Ngọc H đều không biết Phạm Ngọc P sử dụng xe mô tô của mình để thực hiện hành vi phạm tội, không tham gia hay giúp sức để Phạm Ngọc P thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, không có căn cứ để xem xét vai trò đồng phạm của bà K và ông H đối với hành vi phạm tội của Phạm Ngọc P.

- Đối với hành vi đập bể, làm hư hỏng tài sản trong quá trình trộm cắp tài sản là 02 heo đất của ông Võ Hoài Ch và bà Trần Thị Hồng L1 với tổng thiệt hại: 95.500 đồng, bản thân bị cáo chưa bị xử lý về hành vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a đến điểm đ, Khoản 1, Điều 178 Bộ luật hình sự. Do đó, không có đủ căn cứ xử lý hình sự đối với bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gia Lai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 119; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên;

Căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần jean dài màu xám; 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh đen, phía sau có in dòng chữ “Panasonic”, phía trước bên trái có in dòng chữ “Panasonic”; 01 (một) khẩu trang y tế màu xám; 01 (một) đôi dép bằng da quai trùm, có đế màu đen, quai dép sọc caro; 01 (một) bao lì xì bằng giấy, màu đỏ có kích thước (18x9)cm;

+ 02 USB nhãn hiệu CUSIGLE có chứa các đoạn video liên quan đến vụ án tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 9 năm 2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6, tỉnh Gia Lai).

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ