vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 27/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đào Kha L và Danh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Kha L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án Xử phạt bị cáo Danh Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Kha L, Danh Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đào Kha L và Danh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 27/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết Anh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Minh Sơn

Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ngộ – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 , tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Kha L, sinh ngày 01/01/1991; nơi sinh: Bạc Liêu; nơi cư trú; Số B, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Đào X (chết); mẹ là bà Thạch Thị L1, sinh năm 1956; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị khởi tố bị can ngày 17/02/2025, bị cáo tại ngoại (Có mặt).

2. Họ và tên: Danh Q, sinh ngày 10/3/1992, tại: Bạc Liêu; nơi thường trú: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nay là tỉnh Cần Thơ); nơi cư trú: Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là ông Danh N (chết) và mẹ là bà Trương Thị D, sinh năm 1965; có vợ là Phan Thị Kim C, sinh năm 1993 (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị khởi tố bị can ngày 17/02/2025, bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Bị hại: Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Cà Mau; đại diện theo pháp luật: Ông Lâm Danh N1 - Chủ tịch Ủy ban (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Bùi Thị L2, sinh ngày 02/02/1982; địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) (Vắng mặt).

Ông Lý S, sinh năm 1988; địa chỉ: Số B, Ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Kha L và Danh Q không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài cả hai đã cùng nhau đi cắt trộm dây cáp điện chiếu sáng công cộng thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau), trên tuyến đường G-G thuộc phường H, tỉnh Cà Mau. Cụ thể:

Khoảng 01 giờ ngày 03/11/2024, L cầm theo cây kéo cùng Q đi bộ đến bên hông tiệm T2, ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, L đứng trên vai Qui, dùng kéo cắt dây cáp đồng nhãn hiệu CADIVI Duplex gồm 02 dây đơn màu trắng và màu đen rồi đi đến căn nhà hoang gần đó kéo đầu dây đã bị cắt từ trước được 44m. Sau đó, cả hai đem về nhà Lức, đốt cháy vỏ nhựa bên ngoài lấy phần lõi đồng bán cho bà Bùi Thị L2, sinh năm 1982 tại ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu được 1.100.000 đồng rồi chia nhau. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, màu xanh, gắn biển kiểm soát 94FC-0065 chở Lức đến nhà văn hóa tại ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, cách vị trí lấy trộm trước đó khoảng 600m, để tiếp tục lấy trộm dây cáp điện chiếu sáng. Qui đậu xe bên ngoài cảnh giới, còn L trèo lên tường kéo dây cáp xuống cắt được 20,4m thì bị lực lượng Công an xã V, thành phố B phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 20,4m dây cáp điện nhân hiệu CADIVI Duplex gồm hai sợi dây, một sợi dây có vỏ nhựa bọc bên ngoài màu trắng và một sợi dây có vỏ nhựa bên ngoài màu đen; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 22cm, phần cán bọc nhựa màu đen có dòng chữ KEO THEP, 01 đôi dép nhựa màu trắng, trên quai dép có dòng chữ FIGHTER; 01 thanh kim loại tròn dài khoảng 30 cm và 01 xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, màu xanh, biển kiểm soát 94FC-0065. Ngoài ra, ngày 05/11/2024 bà Bùi Thị L2 tự nguyện giao nộp 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hoà, 12 cuộn dây đồng, mỗi cuộn có 07 lõi.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 86/KL-HĐĐGTS, ngày 08/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: "01 mét dây điện cáp đồng nhãn hiệu CADIVI, loại Duplex, gồm hai cọng dây đơn, mỗi cọng có 07 lõi đồng có giá là 47.100 đồng". Như vậy, 64,4 mét dây điện cáp đồng có giá là 3.033.240 đồng.

Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có kiếu nại gì đối với kết luận định giá của cơ quan chuyên môn. Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKS-HS ngày 16/5/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Đào Kha L và Danh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Các bị cáo có ý thức xem thường pháp luật nên cần có mức án nghiêm khắc để răn đe đối với các bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo L và Q đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đào Kha L và Danh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt các bị cáo Đào Kha L, Danh Q mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiện dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 586, Điều 588; Điều 589; Điều 275; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc các bị cáo Đào Kha L và Danh Q có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Cà Mau số tiền 3.033.240 đồng, trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường 1.516.620 đồng.

Về vật chứng:

Đối với 20,4m dây cáp điện nhãn hiệu CADIVI Duplex; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 đôi đép nhựa màu trắng; 01 thanh kim loại tròn dài 30 cm; 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H; 12 cuộn dây đồng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Trả cho ông Lý S 01 xe mô tô nhãn hiệu Nagaki, màu xanh, biển kiểm soát 94FC-0065

Về án phí: Các bị cáo Đào Kha L và Danh Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Đào Kha L và Danh Q thống nhất hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt do các bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng vể thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đào Kha L và Danh Q không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, đúng quy định. [2] Về nội dung vụ án:

Bị cáo Đào Kha L và Danh Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng truy tố; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản, cách thức chiếm đoạt tài sản; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác. Do đó, đủ cơ sở xác định trong khoảng thời gian từ 01 giờ đến 21 giờ ngày 03/11/2024, tại ấp B, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau), các bị cáo Đào Kha L và Danh Q liên tục cùng nhau lấy trộm 64,4m dây điện cáp đồng nhãn hiệu CADIVI, loại Duplex phục vụ chiếu sáng công cộng do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường H, tỉnh Cà Mau) quản lý có tổng trị giá là 3.033.240 đồng.

Khi thực hiện hành vi các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Đào Kha L và Danh Q có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh Cà Mau truy tố là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra truy tố và xét xử, các bị cáo Đào Kha L và Danh Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đào Kha L và Danh Q là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng không bàn bạc, phân công vai trò, không có sự câu kết chặt chẽ, là đồng phạm giản đơn cùng thực hiện hành vi có vai trò ngang nhau nên xét thấy xử các bị cáo mức hình phạt tương đương nhau là phù hợp. Từ các tình tiết nêu trên chấp nhận toàn bộ đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Đào Kha L và Danh Q có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Cà Mau số tiền 3.033.240 đồng, trong đó bị cáo L có nghĩa vụ bồi thường 1.516.620 đồng, bị cáo Q có nghĩa vụ bồi thường 1.516.620 đồng [4] Về vật chứng:

Đối với 20,4m dây cáp điện nhãn hiệu CADIVI Duplex; 01 cây kéo bằng kim loại; 01 đôi đép nhựa màu trắng; 01 thanh kim loại tròn dài 30 cm; 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn H; 12 cuộn dây đồng, các tài sản này là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhân hiệu Nagaki, màu xanh, biển kiểm soát 94FC-0065 là của ông Lý S, ông S không biết các bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên trả cho ông Lý S

Về án phí: Các bị cáo Đào Kha L và Danh Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố các bị cáo Đào Kha L và Danh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Kha L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án

Xử phạt bị cáo Danh Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 586, Điều 588; Điều 589; Điều 275; Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc các bị cáo Đào Kha L và Danh Q có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Cà Mau số tiền 3.033.240 đồng, trong đó bị cáo L có nghĩa vụ bồi thường 1.516.620 đồng, bị cáo Q có nghĩa vụ bồi thường 1.516.620 đồng.

3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) cân đồng hồ lò xo, nhãn hiệu Nhơn Hòa 30kg, model: CDH-30, νỏ sắt màu xanh, mặt kính tròn bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng. Được niêm phong có sự chứng kiến và ký xác nhận trên gói niêm phong của chị Bùi Thị L2, chữ ký Điều tra viên Lục Văn T và có dấu mộc đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Có ghi chú trên gói niêm phong “01 (Một) cân đồng hồ lò xo, nhân hiệu Nhơn Hòa 30kg, model: CĐH-30, vỏ sắt màu xanh, mặt kính tròn bằng nhựa trong suốt, đã qua sử dụng”.

- 12 (mười hai) cuộn dây đồng, mỗi cuộn có 07 lõi, đã qua sử dụng. Được niêm phong có sự chứng kiến và ký xác nhận trên gói niêm phong của chị Bùi Thị L2, chữ ký Điều tra viên Lục Văn T và có dấu mộc đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Có ghi chú trên gói niêm phong “12 (mười hai) cuộn dây đồng, mỗi cuộn có 07 lõi, đã qua sử dụng”.

- 02 (hai) đoạn dây điện màu trắng và màu đen, mỗi đoạn dây dài 5,8 m, trên hai doạn dây có dòng chữ CDIVI-DuCV 2x10-0.6/1KV-AS/NZS 5000.1-D; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 22cm, phần lưỡi kéo dài 12cm, cân bằng kim loại bọc nhựa màu đen có dòng chữ KEO THEP; 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng phần quai dép có dòng chữ FIGHTER; 01 (một) thanh kim loại dài 30 cm, một đầu có đường kính 01cm và một đầu có đường kính 02cm và 14.6m dây điện hiệu CADIVI, gồm hai cộng dây đơn (một cộng vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu trắng và một cộng vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài màu đen), trên vỏ bọc bằng nhựa có dòng chữ CDIVI-DuCV 2x10-0.6/1KV-AS/NZS 5000.1-D, được niêm phong lại thành một gói trên gói niêm phong có chữ ký ghi họ tên của Danh Q, điểm chỉ của Đào Kha L và chữ ký Điều tra viên Lục Văn T1 có đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và ghi chú bên ngoài gói niêm phong: “02 (hai) đoạn dây điện màu trắng và màu đen, mỗi đoạn dây dài 5,8 m, trên hai đoạn dây có dòng chữ CDIVI-DuCV 2x10-0.6/1KV-AS/NZS 5000.1-D; 01 (một) cây kéo bằng kim loại dài 22cm, phần lưỡi kéo dài 12cm, cán bằng kim loại bọc nhựa màu đen có dòng chữ KEO THEP, 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng phần quai dép có dòng chữ FIGHTER; 01 (một) thanh kim loại dài 30 cm, một đầu có đường kính 01 cm và một đầu có đường kinh 02cm” và 14.6m dây điện hiệu CADIVI, gồm hai cộng dây đơn (một cộng vớ bọc bằng nhựa bên ngoài màu trắng và một cộng vỏ bọc bằng nhựa bên ngoài mâu đen), trên vỏ bọc bằng nhựa có dòng chữ CDIVI-DuCV 2x10-0.6/1KV-AS/NZS 5000.1-D.

Trả cho ông Lý S 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 94FC-0065.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 , tỉnh Cà Mau theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/5/2025)

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đào Kha L và Danh Q mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 300.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ