vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2024. Xử phạt bị cáo Lê Quốc Ph 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 28-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Huỳnh Thanh Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/HSST-QĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Minh L, sinh năm 1996 tại Cần Thơ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: ấp Đông Lợi, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Đạt và bà Nguyễn Thị Bích Phượng; tiền án: Tại bản án số 55/2021/HS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 10 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 24 tháng 9 năm 2024 đến nay, có mặt.

2. Lê Quốc Ph, sinh năm 1980 tại Bạc Liêu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Khúc Tréo A, xã Tân P, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Khế và bà Tạ Thị Lắm; có vợ Phạm Kiều Diệu và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Tại bản án số 25/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt P 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn M, sinh năm 1982; nơi cư trú: ấp Cái Đôi Nhỏ, xã Nguyễn Việt Khái, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; tạm trú: ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph là bạn bè quen biết với nhau.

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04 tháng 02 năm 2024, Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph đang đi đến dãy trọ G18 ở tổ 4, ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương để tìm bạn. Khi L và P đi ngang phòng trọ căn 47 của ông Trần Văn M đang ngủ ở phòng trọ không đóng cửa thì L thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17 của ông M đang sạc dưới nền. Lúc này L nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại nên nói cho P biết và rủ P lấy trộm, P đồng ý. Sau đó, L đi đến cửa phòng trọ lấy trộm 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 và nhãn hiệu OPPO A17 của ông M đang sạc, còn P đứng ở ngoài chờ. Khi L lấy trộm xong điện thoại thì bị vợ ông M là bà Nguyễn Thị Bọ phát hiện truy hô và đuổi theo. P bị ông M bắt giữ giao cho Công an xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương và trình báo toàn bộ hành vi sự việc nêu trên. Tại cơ quan Công an, P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đối với Nguyễn Minh L sau khi chạy trốn đã về phòng trọ của mình ở dãy trọ G11- Ô98 đường D5-LH, khu phố Đồng Sổ, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương cất dấu 02 điện thoại lấy trộm được ở phía sau hè, rồi bỏ trốn. Công an xã Lai Hưng tiến hành kiểm tra phòng trọ của L và tiến hành tạm giữ bao gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số seri R58N73EJA6H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1, số seri IJ9DWG4PDILNIFHE (của ông Trần Văn M); 01 áo thun có cổ màu xanh chó chữ RK (của ông Nguyễn Minh L); 01 thẻ nhớ 2GB chứa đoạn video (của bà Lê Thị Thu Loan. Nhận thấy không thuộc thẩm quyền nên Công an xã Lai Hưng đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và tang vật cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Bàu Bàng để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Đến ngày 24 tháng 9 năm 2024, L bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bàu Bàng bắt tạm giam và L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong quá trình điều tra thì P đã bị bắt truy nã theo quyết định truy nã số 151 ngày 23 tháng 3 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HDĐG ngày 21 tháng 02 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bàu Bàng kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số seri R58N73EJA6H, sử dụng từ năm 2021 trị giá 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1, số seri IJ9DWG4PDILNIFHE, sử dụng từ năm 2023 trị giá 2.000.000 đồng. Tổng số tài sản được định giá là 5.500.000 đồng.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A71, số seri R58N73EJA6H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1, số seri IJ9DWG4PDILNIFHE là tài sản hợp pháp của ông M. Nên ngày 25 tháng 02 năm 2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã ra Quyết định xử lý vật chứng và ông M đã nhận lại tài sản trên.

Về dân sự: Bị hại không yêu cầu.

Qua quá trình điều tra Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có được trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Quá trình điều tra các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Bản Cáo trạng số 114/CT-VKSBB ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh L; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Quốc Ph; xử phạt bị cáo Lê Quốc Ph từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

Về vật chứng: đề nghị đưa vào hồ sơ làm tài liệu chứng cứ cho vụ án đối với 01 thẻ nhớ 2GB chứa đoạn video của bà Lê Thị Thu Loan. Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun có cổ màu xanh có chữ RK.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng:

Bị cáo L nói lời sau cùng: hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, bị cáo mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội lo cho vợ con.

Bị cáo P nói lời sau cùng: hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận, bị cáo chỉ nghe lời người khác và vi phạm pháp luật, bị cáo mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 04 tháng 02 năm 2024 tại dãy trọ G18 căn 47 thuộc ấp Cầu Sắt, xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, bị cáo L và P lén lút lấy 01 điện thoại di động Samsung galaxy A71 và điện thoại Oppo A1 tổng giá trị 5.500.000 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với nội dung Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Như vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, đủ để giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với các bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nhân thân: Ngày 16 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Quốc Ph bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tuyên phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nên Hội đồng xét xử phân tích vai trò, hành vi của từng bị cáo để đưa ra mức án phù hợp cho từng bị cáo: Bị cáo L vừa là người rủ rê vừa là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo P nghe bị cáo L rủ trộm cắp tài sản đồng ý là người giúp sức nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo.

Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh L;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Quốc Ph;

Căn cứ các Điều 99, 292 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc Ph 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ 2GB chứa đoạn video. Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun có cổ màu xanh lá cây có chữ RK (đã qua sử dụng).

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 11 năm 2024).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Minh L và Lê Quốc Ph mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ