vanban.org

Bản án 30/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 10/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Vụ GĐKT I - Tòa án nhân dân tối cao (1b); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh H - Tàng trữ trái phép súng săn - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, v…"
  • Tòa quyết gì? Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-PT
Ngày: 12 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Sơn

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh; Ông Nguyễn Thế Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thủy Tiên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tâm– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Thanh H (C), sinh năm 1986 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp X, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M và bà Cao Thị C1; vợ Phan Thị Thanh T; có 01 người con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 436/QĐ-XPHC ngày 24/01/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã xử phạt số tiền 15.000.000đồng về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự công cụ hỗ trợ (súng bắn đạn cao su)” (nộp phạt ngày 30/9/2024); nhân thân: Tại Bản án số 18/2010/HS-ST ngày 11/5/2010 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”(chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011); Tại Bản án số 93/2023/HSPT ngày 26/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”(chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/10/2015); bị cáo tại ngoại (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Thanh H - sinh năm 1986 ngụ ấp X, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre là đối tượng đang có 01 tiền sự chưa được xóa. Cụ thể: Ngày 24/01/2024, Huỳnh Thanh H bị Chủ tịch Ủy ban nhân nhân huyện B xử phạt về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự công cụ hỗ trợ (súng bắn đạn cao su)”, đã nộp phạt vào ngày 30/9/2024.

Khoảng 03 giờ ngày 14/7/2024, Huỳnh Thanh H tiếp tục đến phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre gặp Lê Minh T1 - sinh năm 1982 tạm trú ấp L, xã S, huyện G, tỉnh Bến Tre hỏi mua một khẩu súng săn. Lê Minh T1 đồng ý và lấy khẩu súng của Lê Phi T2 - sinh năm 2001 (con T1) bán với giá 5.000.000 đồng. Sau khi thanh toán xong, Huỳnh Thanh H đem khẩu súng săn về cất giấu ở quán C2 thuộc ấp M, xã M, huyện B để dành bắn chim. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Huỳnh Thanh H tiếp tục mang khẩu súng cất giấu ở gốc cây duối trên phần đất của anh Phạm Văn Q - sinh năm 1979 thuộc ấp G, xã M, huyện B. Từ lời khai của Lê Minh T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G mời Huỳnh Thanh H làm việc rồi thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp thu giữ được khẩu súng săn. Đến ngày 18/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G chuyển hồ sơ cùng tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng và tài sản thu giữ (chưa xử lý) gồm:

- Thu của Huỳnh Thanh H: 01 khẩu súng dài 85cm, trên thân súng có chữ "STEVENS SAVAGE ARMS CORPORATION CHICOPEE FALLSMASS USA"; 02 cái bao thức ăn hỗn hợp NEWHOPE N63, màu trắng, kích thước 0,9 x 0,5m, trên bao có chữ màu đỏ xanh; 01 cái bao màu trắng có viền màu xanh kích thước 0,9 x 0,54m, trên bao có chữ màu đỏ xanh, bao bị rách có dính băng keo trong; 01 điện thoại di động màu trắng, loại màn hình cảm ứng hiệu Oppo Remo 11 Pro 5G, kiểu máy CPH2607, S/N: C195KJKBTWFAUUWJB, số IMEI 1 862980060564978, số IMEI 2 862980060564960, kèm sim số 0977842280 và 0862245486.

- Thu của Lê Minh T1: Số tiền 5.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 4475/KL-KTHS ngày 02/8/2024, Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 khẩu súng tự chế dài 85cm gửi giám định là súng chế tạo thủ công một nòng nhẵn, sử dụng để bắn với loại đạn cỡ 12 gauge (dạng đạn ghém). Khẩu súng trên thuộc nhóm súng săn, không phải vũ khí quân dụng và không có tính năng tác dụng như vũ khí quân dụng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đã tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép súng săn”. Áp dụng khoản 1 Điều 306; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28/02/2025, bị cáo Huỳnh Thanh H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 306; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 07 (bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép súng săn”.

Bị cáo nói lời sau cùng: yêu cầu Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo chăm sóc cha mẹ già, nuôi dưỡng con nhỏ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm đã xác định rằng: Mặc dù đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự công cụ hỗ trợ (súng bắn đạn cao su)” chưa được xóa tiền sự. Ngày 14/7/2024, Huỳnh Thanh H tiếp tục mua 01 khẩu súng qua giám định thuộc nhóm súng săn về cất giấu tại ấp M, xã M và ấp G, xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép súng săn” theo quy định tại khoản 1 Điều 306 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm kết án đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng do bị cáo đã bị Tòa án kết án hai lần về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí, súng, súng săn các loại, mọi hành vi xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước đối với vũ khí, súng, súng săn đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung, góp phần ổn định về an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để đề nghị xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù là có căn cứ đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không phù hợp nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 306; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H 07 (bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép súng săn”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: án phí hình sự phúc thẩm bị cáo Huỳnh Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ