- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà VTX về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông NTTB.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:30/2025/HNGĐST Ngày: 13/6/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thùy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thư.
2. Bà Phan Thị Thanh Dung.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kiều Hoanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Việt Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/5/2025, quyết định hoãn phiên toà số 52/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà VTX, sinh năm: 1989, địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện B, tỉnh Q.
2. Bị đơn: Ông NTTB, sinh năm: 1995, địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Q.
Bà VTX có mặt, ông NTTB vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà VTX trình bày:
Bà VTX và ông NTTB tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Hoà, huyện Núi Thành vào năm 2022. Vợ chồng sống hạnh NVHP đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống không phù hợp. Từ năm cuối năm 2024 đến nay, vợ chồng phần ai nấy sống, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, bà VTX làm đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Núi Thành cho bà được ly hôn ông NTTB.
Về con chung có một con tên NVHP, sinh ngày 04/02/2023. Nếu ly hôn, bà VTX yêu cầu được nuôi con, yêu cầu ông NTTB cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông NTTB không có lời khai tại hồ sơ, không có mặt tại phiên toà nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết xét xử vụ án không có lý do là vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà VTX được ly hôn ông NTTB. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao con chung NVHP, sinh ngày 04/2/2023 cho bà VTX trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông NTTB có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu NVHP đủ 18 tuổi trưởng thành; về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà VTX có đơn yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông NTTB. Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn thì ông NTTB có đăng ký thường trú huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà VTX và ông NTTB tự nguyện tìm hiểu đến với nhau thành vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tam Hoà, huyện Núi Thành vào năm 2022. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà VTX và ông NTTB là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà VTX là do bất đồng quan điểm sống. Từ cuối năm 2024 đến nay vợ chồng phần ai nấy sống, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm hòa giải cho hai bên khắc phục mâu thuẫn quay về đoàn tụ. Ông NTTB đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng không có văn bản ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà VTX. Ông NTTB đã được tống đạt hợp lệ thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông không đến Toà án mà không có lý do, do vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Điều này thể hiện ý chí của ông NTTB không mong muốn hoà giải khắc phục mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà VTX và ông NTTB đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà VTX được ly hôn với ông NTTB là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà VTX và ông NTTB có một con chung tên NVHP, sinh ngày 04/02/2023. Bà VTX yêu cầu được nuôi con, yêu cầu ông NTTB cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng; ông NTTB không có ý kiến trình bày về vấn đề này.
Hội đồng xét xử xét thấy: việc giao con cho ai nuôi phải xem xét với điều kiện thực tế và khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho đứa trẻ, cần phải xem xét toàn diện mọi mặt để đưa ra phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đạo đức xã hội. Cháu NVHP còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi hiện đang sống với mẹ; theo quy định của pháp luật cần giao cho mẹ là bà VTX trực tiếp chăm sóc, giáo dục. Ông NTTB cũng không trình bày nguyện vọng, yêu cầu của mình đối với vấn đề này. Do vậy, xét giao cháu NVHP, sinh ngày 04/02/2023 cho bà VTX trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu NVHP đủ 18 tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nuôi con chung là nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Việc bà VTX yêu cầu ông NTTB cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như thực tế. Do vậy, cần buộc ông NTTB cấp dưỡng nuôi cháu NVHP mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí hôn nhân – đình sơ thẩm: Bà VTX phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng; án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng ông NTTB phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà VTX về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn ông NTTB.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà VTX được ly hôn với ông NTTB.
2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung NVHP, sinh ngày 04/02/2023 cho bà VTX trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi trưởng thành.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông NTTB phải cấp dưỡng nuôi con chung NVHP mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ thời điểm bản án hôn nhân và gia đình này có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu NVHP đủ 18 tuổi trưởng thành.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về tài sản chung, nợ chung và cho mượn nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà VTX phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà VTX đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007157 ngày 11/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Án phí cấp dưỡng nuôi con chung 300.000 đồng ông NTTB phải chịu.
6. Về quyền kháng cáo: Bà VTX có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông NTTB có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo thủ tục NVHP thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Núi Thành; - Chi cục THADS huyện Núi Thành; - TAND tỉnh Quảng Nam; - UBND xã Tam Hoà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Thùy |