vanban.org

Bản án 30/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Văn M Uyển Vi đối với bị đơn ông Võ Thành K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Mỹ Uyển V được ly hôn với ông Võ Thành K. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Văn M Uyển Vi đối với bị đơn ông Võ Thành K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 9 - 2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Xuân Hà và bà Bùi Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Huy– Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Văn Mỹ Uyển V, sinh năm 1999; (Có mặt).

Nơi đăng ký thường trú: Số H đường T, phường P, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Số D đường T, phường P, tỉnh Khánh Hòa.

Bị đơn: Ông Võ Thành K, sinh năm 1998; (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Số A đường Y, phường P, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn Khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Văn M Uyển Vi trình bày:

Bà và ông Võ Thành K tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là phường P, tỉnh Khánh Hòa), vào ngày 11/3/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng hai năm; sau đó, bà và ông K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do ông K thường xuyên rượu chè, không chăm lo cho gia đình, không việc làm, dẫn đến cải vả, vợ chồng có quá nhiều bất đồng về quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung. Không thể tiếp tục chung sống nên từ tháng 01/2021 đến nay, bà và ông Võ Thành K đã không còn chung sống với nhau, bà dọn về nhà mẹ ruột sống. Quá trình sống ly thân, ông K có liên hệ để hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng vẫn không được. Nay tình cảm không còn, không thể quay trở về đoàn tụ nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

Bà và ông Võ Thành K có hai con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 05/10/2017 và Võ Đan T, sinh ngày 25/9/2018. Cháu T đang sống cùng bà còn cháu Đ đang sống cùng ông K và ông bà nội. Nếu ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con Võ Đan T, giao con chung là Võ Thành Đ, cho ông K trực tiếp nuôi. Không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình chuẩn bị xét xử. Ông Võ Thành K trình bày:

Ông không đồng ý ly hôn vì ông còn yêu vợ con. Vợ chồng có hai con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 05/10/2017 và Võ Đan T, sinh ngày 25/9/2018. Nếu Tòa cho ly hôn, ông yêu cầu được nuôi hai con. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho bà Văn M Uyển Vi được ly hôn với ông Võ Thành K. Về con chung: Giao cho bà Văn M Uyển Vi được trực tiếp nuôi con chung là Võ Đan T, sinh ngày 25/9/2018; giao cho ông Võ Thành K trực tiếp nuôi con chung Võ Thành Đ, sinh ngày 05/10/2017. Không ai cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Văn M Uyển Vi yêu cầu ly hôn với ông Võ Thành K. Ông Võ Thành K cư trú tại phường P, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Khánh Hòa.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Võ Thành K. Ông Võ Thành K vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về Quan hệ hôn nhân:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Văn Mỹ Uyển V và ông Võ Thành K là hoàn toàn tự nguyện, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà Văn Mỹ Uyển V cho rằng vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi vả, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ năm 2021 đến nay, mẫu thuẫn vợ chồng vẫn không thể hàn gắn và vẫn sống ly thân nhau. Ông Võ Thành K có bản trình bày ý kiến về việc không đồng ý ly hôn tuy nhiên không tham gia phiên hòa giải tại Tòa án. Tại Biên bản xác minh, chính quyền địa phương xác định: bà Văn Mỹ Uyển V và ông Võ Thành K đã sống ly thân nhau từ năm 2021 đến nay. Tại phiên tòa, bà Văn Mỹ Uyển V xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông Võ Thành K nữa, nếu quay về chung sống thì mâu thuẫn vợ chồng sẽ ngày một trầm trọng hơn.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của bà Văn Mỹ Uyển V, ông Võ Thành K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho bà Văn M Uyển Vi ly hôn với ông Võ Thành K.

Về nuôi con chung:

Bà Văn M Uyển Vi và ông Võ Thành K có hai con chung tên Võ Thành Đ, sinh ngày 05/10/2017 và Võ Đan T, sinh ngày 25/9/2018. Cháu T đang sống cùng bà V còn cháu Đ đang sống cùng ông K.

Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ, tránh sự xáo trộn về học tập, nơi ở của trẻ, xem xét nguyện vọng của trẻ đủ 07 tuổi, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Văn Mỹ Uyển V, giao cho bà Văn M Uyển Vi trực tiếp nuôi con chung Võ Đan T, giao cho ông Võ Thành K trực tiếp nuôi con chung Võ Thành Đ.

Ông K có ý kiến trường hợp Tòa án cho ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung nhưng ngoài yêu cầu nuôi con, ông K không nêu lý do, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh về thu nhập, điều kiện nuôi con nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung do không có yêu cầu về cấp dưỡng.

Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Khánh Hòa là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Q, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15; Khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Văn M Uyển Vi đối với bị đơn ông Võ Thành K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Mỹ Uyển V được ly hôn với ông Võ Thành K.

2. Về con chung:

Giao cho bà Văn M Uyển Vi có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Võ Đan T, sinh ngày 25/9/2018

Giao cho ông Võ Thành K có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Võ Thành Đ, sinh ngày 05/10/2017.

Không ai phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Văn Mỹ Uyển V phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Toà án số 0001053 ngày 27/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 5 – Khánh Hòa). Bà Văn Mỹ Uyển V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/9/2025); vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ