- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà `Phạm Thị Thu H:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: …. /2025/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 5 – 2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quang;
2. Ông Lữ Duy Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký TAND thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2025/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà `Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1999, địa chỉ: Tổ X, khu phố Y, phường B.T, thị xã L.G, tỉnh B.T.
- Bị đơn: Ông Đỗ Duy T, sinh năm: 1990, địa chỉ: Xóm Z, thôn Bình An K, xã T.B, thị xã L.G, tỉnh B.T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024, và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn là bà `Phạm Thị Thu H trình bày:
Bà H và ông Đỗ Duy T tự nguyện tìm hiểu, kết hôn và có đăng ký kết hôn, được UBND xã Tân Bình cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 25/8/2017. Bà H, ông T có 02 người con chung là cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 và cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020.
Sau khi kết hôn, bà H, ông T sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ bà Thơm ở khu phố 3, phường Bình Tân, thị xã La Gi, đến năm 2018 bà H, ông T chuyển về sống chung với cha, mẹ ông T tại thôn Bình An 1, xã Tân Bình. Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T thường xuyên uống rượu, bia với bạn bè, không tu chí làm ăn, hay nghe lời người xung quanh, ông T có hành vi bạo lực gia đình là đánh bà Thơm (tát vào mặt), đến năm 2023 bà Thơm đưa 02 con về sống chung với cha, mẹ bà Thơm, cùng năm đó, bà Thơm có nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn nhưng không được Tòa án mời lên làm việc, sau đó bà Thơm được hướng dẫn nộp lại đơn khởi kiện.
Từ năm 2023 cho đến nay, bà Thơm và ông T đã sống ly thân, cả hai không còn quan tâm, không còn tình cảm gì với nhau, nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy bà Thơm khởi kiện ra Tòa án nhân dân thị xã La Gi đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đỗ Duy T; Giao cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 và cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020 cho bà `Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng Ông Đỗ Duy T phải cấp dưỡng nuôi con với số tiền là 1,5 triệu đồng cho mỗi con chung cho đến khi con thành niên và đủ khả năng lao động; Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
Hai cháu Tuấn và cháu Vũ sống chung với bà Thơm từ năm 2023 cho đến nay, cháu Tuấn hiện đang theo học tại Trường Tiểu học Tân Bình. Hiện tại bà Thơm đang làm buôn bán nhỏ và làm thêm một số việc khác, thu nhập bình quan mỗi tháng vào khoảng hơn 10 triệu đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, trên cơ sở ý kiến nguyện vọng của con, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện về con chung là đề nghị Tòa án giao cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 cho ông Đỗ Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, bà Thơm không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Đỗ Duy T trình bày:
Nội dung trình bày của bà H về quá trình tìm hiểu, kết hôn, đăng ký kết hôn và có con chung là đúng. Quá trình sống chung, ông T phát hiện bà H có quan hệ bất chính với người khác, hai bên xảy ra mâu thuẫn nhưng sau đó ông T chấp nhận bỏ qua để tiếp tục giữ gìn hạnh phúc gia đình, tuy nhiên mâu thuẫn lại tiếp tục phát sinh liên quan đến chuyện tiền bác, trong lúc cãi vã do nóng giận nên ông T có tát bà H một cái, sau đó bà H đưa hai cháu về nhà sống chung với cha, mẹ từ năm 2023. Mặc dù hai người sống ở hai nhà khác nhau nhưng do gần nên ông T vẫn thường xuyên qua lại, thăm nom, chăm sóc con chung.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H thì ông T không đồng ý, vì nhận thấy vẫn còn tình cảm và mong muốn tiếp tục xây dựng gia đình hạnh phúc để chăm lo cho các con. Tuy nhiên, trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H thì ông T đề nghị được trực tiếp nuôi hai cháu, do bà H không thường xuyên quan tâm, chăm sóc hai cháu, các cháu thường sinh sống tại nhà ông T.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành thụ lý, tống đạt các văn bản tố tụng, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đưa vụ án ra xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác tình trạng hôn nhân của bà `Phạm Thị Thu H và ông Đỗ Duy T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đủ căn cứ để ly hôn, trên cơ sở quyền lợi về mặt của con chung, nhận thấy việc giao con chung như yêu cầu khởi kiện của bà H là phù hợp, chính vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà `Phạm Thị Thu H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đỗ Duy T, giao cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 cho ông Đỗ Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đỗ Duy T có nơi cư trú tại thôn thôn Bình An 1, xã Tân Bình, thị xã La Gi nên thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân thị xã La Gi theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tại phiên tòa, vắng mặt ông Đỗ Duy T, tuy nhiên ông T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt ông T.
Cả bà H và ông T đều xác định quá trình sống chung cả hai phát sinh mâu thuẫn, có cãi vã, thậm chí ông T có hành vi đánh bà H. Từ năm 2023 cho đến nay, cả hai đang sống ly thân. Đây là những tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” (Khoản 1 Điều 19); “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau” (Điều 21); “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được là vợ, chồng sống ly thân” (Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP); “Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình là vợ, chồng có hành viđánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng (Khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP; Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình); Căn cứ lời trình bày của đương sự và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình, đủ cơ sở để xác định hôn nhân của bà H, ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà `Phạm Thị Thu H, về việc việc ly hôn với ông Đỗ Duy T là có căn cứ và được chấp nhận.
Căn cứ ý kiến, nguyện vọng của con chung, quyền lợi về mọi mặt của con và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà H và ông T, việc giao cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 cho ông Đỗ Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng như yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
Bà `Phạm Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Điều 19, Điều 21, Điều 56, Điều 69, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình;
- Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà `Phạm Thị Thu H:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà `Phạm Thị Thu H ly hôn với ông Đỗ Duy T.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Duy Tuấn, sinh ngày: 09/7/2017 cho ông Đỗ Duy T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Đỗ Duy Hoàng Vũ, sinh ngày: 09/7/2020 cho bà `Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Đỗ Duy T và bà `Phạm Thị Thu H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
2. Bà `Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu số 0012180, ngày 13/02/2025.
3. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã La Gi; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Đình Phú |