vanban.org

Bản án 30/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G là vợ chồng.

Về con chung: Đã trưởng thành và có cuộc sống ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kha Thị Thanh T - Đào Thanh G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 4 – 2025.
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tính

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Phương Anh

2. Ông Phạm Văn Sáu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Kha Thị Thanh T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Đào Thanh G, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp N, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Kha Thị Thanh T trình bày: Về hôn nhân: Năm 2000, bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, giữa bà Kha Thị Thanh T với ông Đào Thanh G thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà Kha Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận tôi với ông Đào Thanh G là vợ chồng.

Về con chung: Bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G chung sống với nhau có 01 người con chung tên Đào Thị Anh T1, sinh ngày 18/5/2002, hiện đã trưởng thành và có gia đình riêng nên bà Kha Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G chung sống với nhau không có nợ bất kỳ tổ chức tín dụng và cá nhân nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Thanh G: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã nhiều lần trực tiếp đến nơi cư trú của ông Đào Thanh G để tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đào Thanh G không đến Tòa án để làm việc, cung cấp tài liệu, chứng cứ và trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Kha Thị Thanh T nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Đào Thanh G.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu trình bày quan điểm: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Kha Thị Thanh T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Đào Thanh G chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G không phải là vợ chồng. Về con chung: Đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Bà Kha Thị Thanh T tự thỏa thuận với ông Đào Thanh G, không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về nợ chung: Bà Kha Thị Thanh T xác định trong thời gian chung sống với ông Đào Thanh G vợ chồng không có bất cứ tổ chức tín dụng và cá nhân nào và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về án phí: Bà Kha Thị Thanh T phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền: Bà Kha Thị Thanh T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà Kha Thị Thanh T với ông Đào Thanh G là vợ chồng. Ông Đào Thanh G có địa chỉ tại ấp N, xã V, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Ông Đào Thanh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông G.

Về hôn nhân: Bà T xác định bắt đầu chung như vợ chồng với ông G vào năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 37/UBND ngày 06/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã V thể hiện: Ủy ban nhân dân xã V không tìm thấy thông tin về kết hôn của bà T và ông G. Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hôn nhân của bà T và ông G là hôn nhân không hợp pháp, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.

Bà T và ông G đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay mà không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng với ông G. Căn cứ vào các điều 14, 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tuyên bố bà T và ông G không phải là vợ chồng.

Về con chung: Theo xác nhận thông tin về cư trú ngày 27/12/2024 (bút lục 01) và lời trình bày của bà T thì bà T và ông G chung sống với nhau có 01 người con chung tên Đào Thị Anh T1, sinh ngày 18/5/2002, hiện đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T xác định tự thỏa thuận với ông G, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống với ông G vợ chồng chung sống không có nợ bất kỳ tổ chức tín dụng hay cá nhân nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0004552 ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 14, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G là vợ chồng.

2. Về con chung: Đã trưởng thành và có cuộc sống ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Bà Kha Thị Thanh T và ông Đào Thanh G tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Kha Thị Thanh T xác định trong thời gian chung sống với ông Đào Thanh G vợ chồng không có nợ tổ chức tín dụng, cá nhân nào và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Bà Kha Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà Kha Thị Thanh T đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0004552 ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Bà Kha Thị Thanh T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bà Kha Thị Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đào Thanh G vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ