- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trịnh Thị Hằng - Phạm Văn Hoàng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị H, cho chị H được ly hôn anh Phạm Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 21/5/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quản
2. Bà Vũ Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1986
Nơi ĐKTT: Thôn Phú H, xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Hiện đang làm việc tại: Công ty TNHH E-EUM F&C VINA
Địa chỉ: Số 185 khu phố Thành Ph, thị trấn Quán L, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn 3, xã Nga Th, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà chị Trịnh Thị H và anh Phạm Văn H vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/02/2025 và Bản tự khai nguyên đơn là chị Trịnh Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn H kết hôn vào ngày 29 tháng 6 năm 2010, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn về kinh tế. Mặc dù cả hai đã cố gắng để vợ chồng hòa hợp nhưng vẫn không cải thiện được về tình cảm. Kể từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm Văn H.
- Về con chung: Chị và anh Phạm Văn H có 01 con chung là Phạm Hoài A, sinh ngày 01/01/2011. Hiện tại cháu A đang ở cùng với anh H. Sau ly hôn, chị đề nghị giao con cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Bị đơn anh Phạm Văn H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh thống nhất như nội dung mà chị H trình bày về thời gian và nơi đăng ký kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian vợ chồng sống ly thân. Chị H đề nghị ly hôn, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không hàn gắn được hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Hoài A, sinh ngày 01/01/2011. Cháu A lâu nay vẫn đang sinh sống ổn định cùng anh. Sau ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Bản tự khai ngày 04/4/2025, cháu Phạm Hoài A trình bày: Nếu chị H và anh H ly hôn thì nguyện vọng của cháu A xin tiếp tục được ở với anh H để anh H tiếp tục chăm sóc cháu ăn học, phát triển như lâu nay.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh H vắng mặt, có đơn xin hoà giải vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành được với nguyên đơn, đồng thời Toà án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, chị H và anh H đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị H, anh H vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Căn cứ vào quy định của BLTTDS, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS; Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị H, cho chị H được ly hôn anh H. Về con: Giao cháu Phạm Hoài A, sinh ngày 01/01/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
. Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Phạm Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Theo các đương sự trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn về kinh tế. Mặc dù cả hai đã cố gắng để vợ chồng hòa hợp nhưng vẫn không cải thiện được về tình cảm. Kể từ năm 2020 cho đến nay vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau nữa. Chị H đề nghị ly hôn, anh H cũng nhất trí. Xét thấy cuộc sống chung của chị H, anh H đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ lâu, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H ly hôn anh H là phù hợp quy định của pháp luật.
. Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Hoài A, sinh ngày 01/01/2011. Sau ly hôn, các đương sự đều đề nghị giao cháu An cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; chị H, anh H đều thống nhất chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của của các đương sự đề nghị giao cháu Phạm Hoài A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện. Qua xác minh tại UBND xã Nga Th, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì cháu A đang sinh sống cùng anh H tại xã Nga Th, cháu A có nguyện vọng ở với anh H. Để cuộc sống của cháu A được ổn định nên giao cháu A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp thực tế cũng như quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu chị H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên HĐXX miễn xét.
. Về tài sản và nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí DSST về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị H, cho chị H được ly hôn anh Phạm Văn H.
2. Về con: Giao cháu Phạm Hoài A, sinh ngày 01/01/2011 cho anh Phạm Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, ký hiệu BLTU/24, số: 0006491 ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Hằng đã nộp đủ án phí DSST.
4. Quyền kháng cáo: Chị H, anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ-KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND xã Thiệu L, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |