- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Kim Quyền, Trần Quốc An"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim Q về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn: Giao con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 cho chị Đặng Kim Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 29/4/2025 V/v Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Đình Hoằng
2. Bà Tô Thị Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Đặng Kim Q, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn B, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum; (Có mặt).
2- Bị đơn: Anh Trần Quốc A, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2025 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đặng Kim Q trình bày:
Chị Đặng Kim Q và anh Trần Quốc A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 109/2022/QĐST – HNGĐ ngày 30/3/2022 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Théo đó, chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Đặng Khởi M, sinh ngày 22/10/2018, anh Trần Quốc A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016. Theo mong nuốn và nguyện vọng của cháu Trần Khang Q1 nhiều lần khóc xin theo mẹ vì ba cháu đi làm xa không thường xuyên quan tâm chăm sóc cháu, cháu Trần Khang Q1 sức khoẻ không tốt mà hiện tại chị Q có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc cháu Trần Khang Q1. Do đó chị Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và giao con là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 cho chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị Đặng Kim Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt ngày 04/11/2022, bị đơn là anh Trần Quốc A trình bày:
Anh và chị Đặng Kim Q ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 109/2022/QĐST – HNGĐ ngày 30/3/2022 theo đó con chung của anh chị là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 giao cho anh, con chung là Trần Đặng Khởi M, sinh ngày 22/10/2018 giao cho chị Đặng Kim Q trực tiếp nuôi dưỡng, sau khi ly hôn và giải quyết về con chung cháu Q1 ở với anh vẫn được chăm sóc tốt, cháu phát triển bình thường nhưng nay chị Đặng Kim Q có yêu cầu muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 và không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sau khi hỏi ý kiến của cháu Q1 cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nên anh đồng ý giao cho chị Đặng Kim Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016, việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn anh và chị Đặng Kim Q tự thoả thuận giải quyết với nhau, không yêu cầu Toà giải quyết.
Hiện nay vì đi làm việc xa nhà nên không thể thường xuyên có mặt tại địa phương, do đó anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng;
Về tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Đảm bảo theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án và hướng giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Chị Đặng Kim Q có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với anh Trần Quốc A theo quy định của pháp luật. Đơn khởi kiện của chị Đặng Kim Q được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý, xem xét. Anh Trần Quốc An cư T tại thành phố P, tỉnh Gia Lai, nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục lựa chọn hoà giải và lựa chọn Hoà giải viên: Ngày 12/3/2025, người khởi kiện có ý kiến về việc không hoà giải, đối thoại tại Toà án. Vì vậy, Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Quốc A có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt; anh Trần Quốc A không tham gia hòa giải; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; không tham gia phiên tòa. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh Trần Quốc A.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Đặng Kim Q và anh Trần Quốc A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 109/2022/QĐST – HNGĐ ngày 30/3/2022 của Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Théo đó, chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Đặng Khởi M, sinh ngày 22/10/2018, anh Trần Quốc A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016, quyền thăm nom con giữa hai bên vẫn được thực hiện theo uy định của pháp luật. Theo mong nuốn và nguyện vọng của cháu Trần Khang Q1 nhiều lần khóc xin theo mẹ vì ba cháu đi làm xa không thường xuyên quan tâm chăm sóc cháu, cháu Trần Khang Q1 sức khoẻ không tốt mà hiện tại chị Q có đủ điều kiện kinh tế để chăm sóc cháu Trần Khang Q1. Do đó chị Q làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và giao con là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 cho chị Q được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị
T1 biên bản lấy ý kiến của người chưa thành niên đối với cháu Trần Khang Q1 thì cháu trình bày rằng sau khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu được ở với ba cháu là Trần Quốc A, nhưng lâu nay ba cháu đi làm xa ở Hà Nội, cháu ở nhà với bà nội cháu, bà nội chăm cháu lúc tốt lúc không vì bà nội khi đau ốm không chăm cháu được, nay mẹ cháu có yêu cầu được đón cháy về ở với mẹ thì cháu cũng có nguyện vọng được về ở với mẹ cháu.
Tại biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị T2 là bà nội của cháu Trần Khang Q1 cho biết Đặng Kim Q trước đây là con dâu của bà, năm 2022 con trai bà Trần Quốc A và con dâu Đặng Kim Q ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 109/2022/QĐST – HNGĐ ngày 30/3/2022 theo đó con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 giao cho con trai bà là Trần Quốc A, con chung là Trần Đặng Khởi M, sinh ngày 22/10/2018 giao cho Đặng Kim Q được trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn và giải quyết về con chung vì con trai bà Trần Quốc A đi làm xa thỉnh thoảng về thăm con nên cháu Trần Khang Q1 ở với bà một tay bà chăm sóc, cháu vẫn phát triển bình thường, nhưng nay chị Đặng Kim Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Trần Khang Q1 thì bản thân bà không có ý kiến gì bà có hỏi nguyện vọng của cháu Trần Khang Q1 có muốn ở với mẹ không cháu Q1 có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Sau khi trao đổi với con trai bà là Trần Quốc A, con trai bà Trần Quốc A đồng ý để cho cháu Trần Khang Q1 được ở với mẹ theo nguyện vọng. Trần Quốc A hiện vẫn đang chung sống cùng nhà với bà, nhưng vì công việc nên không thể đến Toà để tham gia tố tụng được, đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim Q theo quy định của pháp luật.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Quốc A cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim Q, đồng ý giao con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 cho chị Đặng Kim Q được trực tiếp nuôi dưỡng, tuy nhiên anh không đến Tòa để tham gia tố tụng và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Từ những căn cứ và nhận định trên có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim Q, giao chị Đặng Kim Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đặng Kim Q không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không quyết định.
Về án phí: Nguyên đơn chị Đặng Kim Q tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 94, 144, 146, 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 68, 69, 70, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 24 và các điểm a, b Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Kim Q về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ky hôn: Giao con chung là Trần Khang Q1, sinh ngày 19/5/2016 cho chị Đặng Kim Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Thời gian giao nuôi con từ thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.
Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật; Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
2. Về án phí: Chị Đặng Kim Q tự nguyện chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 20 ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chị Đặng Kim Q đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luậtthi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP. P;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS TP P;
- TAND tỉnh Gia Lai;
(Đã ký)
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN –
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Quách Đình Hoằng Tô Thị Lành Nguyễn Thị Hồng T3 Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. Pleiku;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục T;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND xã A, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai (Giấy CNKH số 85/2013 Đăng ký ngày 04/9/2013);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Tp. Pleiku;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục THADS Tp Pleiku;
- TAND tỉnh Gia Lai;
- UBND phường Phù Đổng, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai(Giấy CNKH số 19/2018 ngày 17-3-2018);
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hồng Thắm
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ PLEIKU
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH GIA LAI
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
Vào lúc 14 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 9 năm 2019, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Tô Thị Lành
2. Bà Doãn Thị Lệ
Căn cứ Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Hội đồng xét xử tiến hành thảo luận về việc xét xử, hoãn phiên tòa đối với vụ án dân sự thụ lý số 430/2019/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” giữa:
Nguyên đơn: Chị Võ Trình Mỹ Duyên, sinh ngày 27-8-1993
Địa chỉ: 65 Lê Lợi, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Bị đơn: Anh Lê Văn Quang, sinh ngày 07-9-1996
Địa chỉ: 66/6 Lý Chính Thắng, tổ 3, phường Chi Lăng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Ý kiến của Hội thẩm nhân dân 1: Tòa án đã triệu tập hợp lệ cho các đương sự trong vụ án đến tham gia tố tụng tại phiên tòa công khai vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019.
Tuy nhiên đến lúc này đã 14 giờ 00 phút ngày 04-9-2019, bị đơn anh Lê Văn Quang vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất. Để đảm bảo quyền lợi cho bị đơn, cần phải hoãn phiên tòa.
Ý kiến hội thẩm thứ hai và chủ tọa phiên tòa nhất trí với ý kiến của Hội thẩm thứ nhất.
Hội đồng xét xử biểu quyết nhất trí hoãn phiên tòa, kết quả biểu quyết: 3/3.
Việc thảo luận kết thúc hồi 14 giờ 10 phút ngày 04 tháng 9 năm 2019. Đã lập thành biên bản và các thành viên Hội đồng xét xử thống nhất ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku; - Các đương sự; - UBND xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Nhàn |