vanban.org

Bản án 30/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Hằng - Anh"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA Á(cid:6) (cid:6)HÂ(cid:6) DÂ(cid:6)
KHU VỰC 7 - V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày 18/8/2025

Về việc: “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con”

(cid:6)HÂ(cid:6) DA(cid:6)H

(cid:6)ƯỚC CỘ(cid:6)G HOÀ XÃ HỘI CHỦ (cid:6)GHĨA VIỆT (cid:6)AM

TOÀ Á(cid:6) (cid:6)HÂ(cid:6) DÂ(cid:6) KHU VỰC 7 – V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ th(cid:21)m gồm có:

Th(cid:25)m phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.

Các Hội th(cid:25)m nhân dân: 1. Ông Lê Văn Cảnh

2. Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lan Chi, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - V.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 –V: ông Đào Văn Trong - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vxét xử sơ thNm công khai vụ án thụ lý số: 115/2025/TLST- HN GĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp mức cấp dưỡng nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HN GĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- &guyên đơn: Bà Bùi Thị Thúy H, sinh năm: 1986.

Địa chỉ (cũ): 529, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh B. N ay là xã H, tỉnh V

- Bị đơn: Ông Phan Thế A, sinh năm: 1982.

Địa chỉ (cũ): 728, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh B. N ay là xã H, tỉnh V

Tại phiên tòa sơ thNm, nguyên đơn vắng mặt, bị đơn có mặt.

(cid:6)ỘI DU(cid:6)G VỤ Á(cid:6):

Trong đơn khởi kiện ngày 12/3/2025, tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 03/6/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Bùi Thị Thúy H trình bày:

Vào năm 2024, bà và ông Phan Thế A đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 168/2024/QĐST-HN GĐ ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B, theo quyết định thì bà là người trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên tên là Phan Minh T, sinh ngày: 24/7/2018. Ông Thế A không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con vì bà không có yêu cầu. Tuy nhiên, hiện tại, do tình hình kinh tế khó khăn, hiện nay

Trang 1

công việc bà không được ổn định, thiếu hụt chi phí để nuôi dưỡng, học hành…của con chung làm ảnh hưởng đến quyền lợi của con chung chưa thành niên.

Vì vậy, bà có yêu cầu ông Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên mỗi tháng là 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đến ngày 03/6/2025, bà H xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu ông Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên mỗi tháng là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại bản khai ngày 16/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn là ông Phan Thế A trình bày:

Ông và bà H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 168/2024/QĐST-HN GĐ ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B. Ông và bà H thỏa thuận: bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên là Phan Minh T, sinh ngày: 24/7/2018, ông không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không có yêu cầu.

Với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của bà H thì ông không đồng ý và cũng không đồng ý với mức cấp dưỡng theo yêu cầu của bà H. Do lúc ly hôn, ông và bà H thỏa thuận ông để lại toàn bộ tài sản cho bà H để bà H nuôi con. Hơn nữa, từ khi ly hôn đến nay, ông có gửi tiền để phụ nuôi con nhưng số tiền ông cấp dưỡng nuôi con bà H sử dụng không đúng mục đích. N ếu trường hợp bà H không có khả năng trực tiếp nuôi con chưa thành niên thì ông sẽ có yêu cầu trực tiếp nuôi con, ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: ThNm phán đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ trong quá trình tố tụng. ThNm phán đảm bảo đúng theo thời gian giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, vô tư, khách quan. N guyên đơn và bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thúy H về việc tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con. Buộc ông Phan Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên là Phan Minh T, sinh ngày 24/7/2018 số tiền là 1.725.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Trí đủ 18 tuổi.

(cid:6)HẬ(cid:6) ĐN(cid:6)H CỦA TÒA Á(cid:6):

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thNm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng: Bà Bùi Thị Thúy H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H.

- Về nội dung vụ án: Bà Bùi Thị Thúy H và ông Phan Thế A có 02 con chung tên là Phan Anh T, sinh ngày 21/4/2006 và Phan Minh T, sinh ngày: 24/7/2018. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 168/2024/QĐST-HN GĐ ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B, đối với con chung của bà H, ông Thế A là Phan Anh T đã trưởng

Trang 2

thành nên các bên không yêu cầu Tòa án xem xét. Đối với con chung chưa thành niên là Phan Minh T giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Thế A không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do bà H không có yêu cầu.

Tuy nhiên, sau khi ly hôn, bà H trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên , bà H cần khoản tiền lo lắng cho con học tập, sinh hoạt…để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ. Hiện bà H cho rằng do tình hình kinh tế khó khăn, công việc bà không được ổn định, thiếu hụt chi phí để nuôi dưỡng, học hành…của con chung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Vì vậy, bà H có yêu cầu ông Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên mỗi tháng là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi con chung của bà H và ông Thế A đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy việc bà H yêu cầu ông Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên hiện do bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ vì theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì : “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đối với mức cấp dưỡng nuôi con mà bà H có yêu cầu là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) là phù hợp với khoản 2, Điều 7 N ghị quyết 01/2024/N Q-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng ThNm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Đối với lương tối thiểu vùng theo danh mục địa bàn cấp xã tại xã Hưng N hượng, tỉnh Vthuộc địa bàn vùng III thì mức lương tối thiểu được quy định là 3.860.000đ (Ba triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng). N hư vậy, xét yêu cầu của bà H về việc buộc ông Phan Thế A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng)/tháng là thấp hơn quy định của pháp luật, đây là sự tự nguyện của bà H nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời trình bày của ông Thế A là không có căn cứ vì theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B (N ay là Tòa án nhân dân khu vực 7 – V) ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên thì bà H là người trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên là Phan Minh T. Hiện bà H vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ, ông Thế A không có căn cứ chứng minh việc yêu cầu xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên mà ông chỉ cho rằng nếu bà H không có khả năng nuôi con thì giao con chung lại cho ông trực tiếp nuôi nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp ông có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Trang 3

- Về án phí: Ông Thế A phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thNm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐN(cid:6)H:

Căn cứ vào các Điều 82, 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ với khoản 2, Điều 7 N ghị quyết 01/2024/N Q-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng ThNm phán Tòa án nhân dân Tối cao; N ghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Phan Thế A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên là Phan Minh T, sinh ngày: 24/7/2018 mỗi tháng là 1.725.000đ (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 18/8/2025.

- Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Phan Thế A phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày: Đối với nguyên đơn vắng mặt tại Tòa thì kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với bị đơn có mặt tại phiên tòa thì kể từ ngày tuyên án; có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vxét xử phúc thNm. -ơi nhận:

Cỡ chữ