vanban.org

Bản án 30/2025/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 16/08/2025 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật khiếu nại năm 2011;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 của Ủy ban nhân dân thà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "“Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai (quyết định giao đất)"
  • Tòa quyết gì? Luật khiếu nại năm 2011;
  • Căn cứ chính? Điều 254 Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HC-ST
Ngày: 16-8-2025
V/v: Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
(quyết định giao đất)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Kiều Văn Thọ.

2. Ông Lê Xuân Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Chúc – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Trọng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 16 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang (cũ) nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - thành phố Cần Thơ, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ công khai xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 17/2025/TLST-HC ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai (quyết định giao đất)”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HC, ngày 31 tháng 7 năm 2025, giữa:

1. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang (nay là khu V, phường N, thành phố Cần Thơ), (có mặt).

2. Người bị kiện:

2.1. Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng cho Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ.

Người đại đại diện hợp pháp (đại diện theo ủy quyền): Ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ, (có mặt).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ.

- Ông Dương Hải T1 – Phó Trưởng phòng kinh tế, hạ tầng và đô thị phường N, thành phố Cần Thơ.

- Ông Phan Thanh T2 – Chuyên viên phòng kinh tế, hạ tầng và đô thị phường N, thành phố Cần Thơ.

- Ông Trần Văn K – Chuyên viên văn phòng HĐND – UBND phường N, thành phố Cần Thơ.

- Ông Nguyễn Văn P – Nguyên Phó giám đốc Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố N.

(Ông T2 vắng mặt còn lại tất cả có mặt tại phiên tòa).

Cùng địa chỉ: Số I, đường C, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang. Nay là Phường N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2025, các tài liệu có trong hồ sơ người khởi kiện trình bày:

Vào năm 2015, cha ruột của bà G là ông Nguyễn Văn T3 cho bà G diện tích 432m2 đất, thửa đất số 57, tờ bản đồ 41 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH-01944, loại đất nông nghiệp. Bà sử dụng ổn định, không lấn chiếm, không tranh chấp.

Ngày 05/11/2020, bà G bị Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) thành phố N thu hồi toàn bộ diện tích thửa đất trên để thực hiện dự án Khu đô thị M.

Cùng ngày, UBND thành phố N ban hành Quyết định số 2349/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư công trình Khu đô thị M. Tuy nhiên, thời điểm này UBND thành phố N chưa có đất để giao cho bà G. Đến ngày 04/11/2024, UBND thành phố ban hành Quyết định số 2214/QĐ-UBND về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất, thể hiện tại Điều 1: Giao cho hộ bà Nguyễn Ngọc G, diện tích 100m2 đất, thuộc thửa đất số: 1014, tờ bản đồ số 43 tại dự án Khu đô thị M. “Giá đất tính tiền sử dụng đất phải nộp theo Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2024 của UBND thành phố N.” Đồng thời, theo Thông báo nộp tiền dụng đất ngày 06/11/2024 của Chi cục thuế Khu vực I lại căn cứ vào Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2024 của UBND thành phố N để tính tiền sử dụng đất đối với trường hợp của bà G là 5.177.000 đồng/m2 (giá đất được tính thời điểm giao đất).

Như vậy, bà G bị thu hồi đất và phê duyệt bồi thường vào ngày 05/11/2020 thì giá đất để tính giao đất ở tái định cư theo giá được phê duyệt năm 2020. Đến năm 2024, UBND thành phố N mới giao nền tái định cư nhưng lại buộc bà G phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất năm 2024 là chưa đúng quy định, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà G. Bà G nhận thấy việc UBND thành phố N giao đất và tính tiền sử dụng đất tại thời điểm năm 2024 là chưa phù hợp theo quy định khoản 4 Điều 254 Luật Đất đai năm 2024 nên bà khiếu nại.

Tại quyết định giải quyết khiếu nại số 169 ngày 22/01/2025 có nội dung giữ nguyên Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 của UBND thành phố về việc giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Ngọc G.

Nay bà G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Hủy toàn bộ Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch UBND thành phố N, về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Ngọc G (lần đầu) (viết tắt Quyết định 169/QĐ-UBND).

Hủy toàn bộ Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 của UBND thành phố N, về việc giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Ngọc G được bố trí tái định cư vào dự án Khu đô thị M (viết tắt Quyết định 2214/QĐ-UBND).

Yêu cầu UBND thành phố N phê duyệt giá đất để tính tiền sử dụng đất nơi tái định cư xác định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được quy định tại khoản 4 Điều 254 Luật Đất đai năm 2024.

Tại Công văn số 750/UBND-TCD ngày 28/5/2025, Ủy ban nhân dân thành phố N có ý kiến như sau:

Dự án Khu đô thị mới thị xã N được UBND tỉnh H cho chủ trương đầu tư theo Quyết định số 1836/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 và Quyết định số 902/QĐ-UBND ngày 11/6/2019 về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1836/QĐ-UBND ngày 27/11/2018 của UBND tỉnh H. Dự án được Hội đồng nhân dân tỉnh H chấp thuận theo Nghị quyết số 19/2018/NQ-HĐND về Danh mục công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích Quốc gia, công cộng cần thu hồi đất và các công trình, dự án có sử dụng đất phải chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa (dưới 10ha) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 đúng theo điểm d, khoản 3, Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.

Để thực hiện dự án, bà Nguyễn Ngọc G bị thu hồi đất diện tích là 432m2 đất nông nghiệp.

Theo Quyết định số 2349/QĐ-UBND ngày 05/11/2020 của UBND thành phố N phê duyệt cho bà G 01 nền tái định cư.

Ngày 16/6/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh H ban hành Quyết định số 1123/QĐ-UBND về việc giao đất (đợt 2, phần diện tích còn lại) để Liên doanh Bất động sản Mỹ - N thực hiện dự án: Khu đô thị M, trong đó có phần đất xây dựng khu tái định cư.

Ngày 14/12/2023, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 2368/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư dự án: Khu đô thị M.

Đến ngày 21/6/2024, Sở Xây dựng tỉnh H có Công văn số 1101/SXD-QLCLCTXD về việc kiểm tra hạ tầng kỹ thuật khu đất tái định cư dự án: Khu đô thị M. Nội dung: Ghi nhận các hạng mục thi công hoàn thành đảm bảo các điều kiện thiết yếu, có thể bố trí nền tái định cư cho các hộ dân ảnh hưởng bởi dự án.

Ngày 31/7/2024, Công ty Cổ phần T4 có văn bản số 49/BĐS-DA về việc báo cáo kết quả định giá đất. Theo đó Công ty đã đề xuất giá là 5.177.000 đ/m2 được Hội đồng thẩm định giá đất của thành phố thống nhất. Cùng ngày, Phòng T5 đã trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt lại giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư dự án: Khu đô thị M tại Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31/7/2024.

Đến ngày 24/9/2024, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Công văn số 1132/UBND-NCTH về việc chủ trương giao Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố thực hiện tổ chức bốc thăm giao nền tái định cư cho các đối tượng được phê duyệt tái định cư tại dự án: Khu đô thị M.

Ngày 24/10/2024, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố phối hợp cùng các đơn vị có liên quan đã tổ chức cho các hộ dân bốc thăm lô nền tái định cư, Theo đó bà Nguyễn Ngọc G đã bốc thăm 01 nền với diện tích đất là 100m2.

Đến ngày 04/11/2024, UBND thành phố N ban hành Quyết định số 2214/QĐ-UBND về việc giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất cho bà Nguyễn Ngọc G. Giá đất tính tiền sử dụng đất phải nộp: Theo Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thành phố N với giá là 5.177.000đ/m2. Bà Nguyễn Ngọc G được giao 01 nền với diện tích là 100m2 số tiền sử dụng đất phải nộp là 517.700.000 đồng.

Đến ngày 25/12/2024, bà Nguyễn Ngọc G đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính và được UBND thành phố N cấp giấy CNQSDĐ.

Việc xác định giá đất cụ thể để tính thu tiền sử dụng đất khi giao đất tái định cư: Tại thời điểm xác định giá, Hội đồng thẩm định giá đất thành phố N căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 12/2024/NĐ-CP) và Thông tư số 36/2014/TT- BTNMT quy định các phương pháp xác định giá. Do đó đơn vị tư vấn thực hiện theo việc ưu tiên phương pháp so sánh, vì có khá nhiều tài sản tương đồng, đồng thời phương pháp này rất phổ biến và mang lại giá trị tương đối chính xác.

Ngoài ra, địa phương cũng tham khảo ý kiến của các Sở, ngành và đã nhận được văn bản hướng dẫn cụ thể tại Công văn số 2047/STNMT-QLĐĐ ngày 29/7/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H về cách xác định giá.

Việc xác định giá đất là đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng dự án, đồng thời tránh việc so bì giữa các dự án xung quanh do chênh giá giữa các dự án lân cận. Vì vậy đơn vị tư vấn đề xuất mức giá trên được sự đồng thuận của hội đồng, của các thành viên dự họp và địa phương nơi có tài sản tọa lạc, không có vụ lợi cá nhân hoặc lợi ích nhóm trong việc xác định giá này và mức giá này được thực hiện một cách khách quan, công tâm độc lập, cách làm phù hợp theo phương pháp quy định hiện hành.

Qua rà soát, việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với bà Nguyễn Ngọc G được thực hiện đầy đủ, đúng chủ trương, chính sách và đúng trình tự, thủ tục định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013. Do vậy, người bị kiện không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà G.

Tại phiên tòa:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người bị kiện giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trên. Do khó khăn trước đây không có nền tái định cư sẵn, nên không thể thực hiện được. Đặc biệt dự án này bố trí tái định cư tại chỗ nên phải thực hiện thủ tục giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng xong mới tính được giá. Thừa nhận giá thu tiền sử dụng đất năm 2024 có cao hơn giá năm 2020 (tại thời điểm thu hồi, phê duyệt). Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, người bị kiện sẽ thực hiện theo bản án của Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Cần Thơ: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật tố tụng hành chính. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc G hủy Quyết định số 2214/QĐ-UBND đối với phần về giá và hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 169/QĐ-UBND.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của người khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

. Xét về đối tượng khởi kiện, thời hiệu và thẩm quyền giải quyết:

. Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết huỷ toàn bộ Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch UBND thành phố N về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Ngọc G (lần đầu) và Huỷ toàn bộ Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 của UBND thành phố N về việc giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Ngọc G. Xét thấy, các quyết định trên đều là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Luật tố tụng hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang nay là tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại Điều 30, 32 của Luật tố tụng hành chính.

. Về thời hiệu khởi kiện: Yêu cầu của người khởi kiện còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

. Tại phiên tòa, có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là ông Phan Thanh T2 vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ, đồng thời người bị kiện cũng thống nhất xét xử vắng mặt ông T2. Căn cứ Điều 157, 158 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Xét về tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khởi kiện:

. Về thẩm quyền: Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 59 Luật đất đai 2013, Điều 123 Luật đất đai năm 2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 18 của Luật khiếu nại năm 2011 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 169/QĐ-UBND là đúng thẩm quyền.

. Về hình thức: Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang ban hành Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất là đúng hình thức theo quy định tại mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T6.

Căn cứ vào Điều 31 của Luật khiếu nại năm 2011 và Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N ban hành Quyết định số 169/QĐ-UBND là đúng hình thức.

. Về trình tự, thủ tục ban hành Quyết định:

Trước khi ban hành quyết định giao đất, Ủy ban nhân dân thành phố N thuê đơn vị tư vấn thực hiện, tham khảo ý kiến của các Sở, ngành tỉnh là đảm bảo về trình tự, thủ tục.

Tại phiên tòa, người khởi kiện và người bị kiện thống nhất cho rằng Chủ tịch UBND thành phố N đã tiến hành các bước thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ, đối thoại, để ban hành và công bố Quyết định số 169/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của của bà Nguyễn Ngọc G (lần đầu) là theo đúng Điều 27, Điều 29, Điều 30, Điều 32 của Luật khiếu nại năm 2011.

. Về nội dung:

Ngày 05/11/2020, Ủy ban nhân dân thành phố N ban hành Quyết định số 2319/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ diện tích 432m2 đất, thửa đất số 57, tờ bản đồ 41 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH-01944, đất nông nghiệp của bà G để thực hiện dự án Khu đô thị M.

Cùng ngày, UBND thành phố N ban hành Quyết định số 2349/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công trình Khu đô thị mới thị xã N. Tại Quyết định phê duyệt, bà G được giao 01 nền tái định cư với diện tích 100m2.

Tuy nhiên, tại thời điểm thu hồi đất và phê duyệt bồi thường cho bà G, UBND thành phố N chưa có đất để giao nền tái định cư cho bà G. Đến ngày 04/11/2024, UBND thành phố N ban hành Quyết định số 2214/QĐ-UBND về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất. Tại Điều 1 của quyết định giao đất thể hiện giá đất tính tiền sử dụng đất phải nộp theo Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2024 của UBND thành phố N. Căn cứ vào Quyết định số 1585/QĐ-UBND ngày 31 tháng 7 năm 2024 của UBND thành phố N phê duyệt giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng dự án Khu đô thị mới thị xã N là 5.177.000 đồng/m2.

Quá trình giải quyết, phía người bị kiện thừa nhận giá đất thu tiền sử dụng đất phê duyệt tại Quyết định số 1585/QĐ-UBND là giá được xác định vào thời điểm năm 2024 và cao hơn giá đất xác định tại thời điểm thu hồi, phê duyệt bồi thường cho bà G năm 2020.

Nhận thấy quá trình thực hiện thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho G được thực hiện vào năm 2020. Căn cứ vào Điều 85 Luật đất đai năm 2013 quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhệm tổ chức lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất”. Đồng thời, tại Điều 26 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định “Dự án tái định cư được lập và phê duyệt độc lập với phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư nhưng phải đảm bảo có đất ở, nhà ở tái định cư trước khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất”.

Hơn nữa, Quyết định giao đất được ban hành ngày 04/11/2014, thời điểm này luật đất đai 2024 có hiệu lực pháp luật, căn cứ vào khoản 4 Điều 254 Luật đất đai năm 2024 quy định “đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư trước ngày luật này có hiệu lực thi hành mà sau ngày luật này có hiệu lực thi hành mới có quyết định giao đất tái định cư thì giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư được xác định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư”.

Đồng thời tại văn bản số 6162/VP.UBND-NCTH ngày 16/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh H đã kết luận đối với việc xử lý về giá đất tái định cư thực hiện áp dụng quy định tại điều khoản chuyển tiếp theo khoản 4 Điều 254 của Luật đất đai năm 2024.

Với quy định trên, Ủy ban nhân dân thành phố N phải thực hiện bố trí tái định cư cho bà G vào thời điểm thu hồi đất và phê duyệt bồi thường. Việc Ủy ban nhân dân thành phố N thực hiện giao nền tái định cư chậm là chưa phù hợp với quy định Luật đất đai 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính Phủ và cũng không thực hiện đúng điều khoản chuyển tiếp được quy định tại khoản 4 Điều 254 của Luật đất đai năm 2024 và Kết luận của Ủy ban nhân dân tỉnh H, làm ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của bà G.

Từ những cơ sở trên, bà Nguyễn Ngọc G yêu cầu hủy Quyết định số 2214/QĐ-UBND là có căn cứ chấp nhận hủy Quyết định số 2214/QĐ-UBND về phần giá đất để Ủy ban nhân dân thành phố N có người kế thừa nhiệm vụ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N ban hành lại giá đất theo quy định của pháp luật mà không cần hủy toàn bộ đối với Quyết định.

. Do Quyết định số 169/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N giải quyết khiếu nại (lần đầu) có nội dung giữ nguyên quyết định số 2214/QĐ-UBND nên cần phải hủy Quyết định số 169/QĐ-UBND.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí hành chính sơ thẩm: Người bị kiện phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 30, 32, 116, 157, 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 206, Điều 348 của Luật tố tụng hành chính 2015;

- Điều 69, Điều 85 Luật đất đai năm 2013;

- Điều 123, 254 Luật Đất đai năm 2024;

- Luật khiếu nại năm 2011;

- Điều 26, 28 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2214/QĐ-UBND ngày 04/11/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất cho bà Nguyễn Ngọc G (phần liên quan về giá đất).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 169/QĐ-UBND ngày 22/01/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với bà Nguyễn Ngọc G.

Ủy ban nhân dân thành phố N, tỉnh Hậu Giang có người kế thừa nhiệm vụ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ có trách nhiệm xem xét ban hành giá đất lại cho bà G theo quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

3. Về án phí hành chính sơ thẩm: Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố N người kế thừa nhiệm vụ là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Cần Thơ phải chịu 300.000 đồng.

Bà Nguyễn Ngọc G được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai số 0000036 ngày 04/04/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang nay là Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

4. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 16/8/2025. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định. {{

Cỡ chữ