- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay đối với ông Lê Trường G.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2025/DS - ST Ngày: 25/7/2025 V/v: " Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồmcó:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Bửu Khánh
Ông Huỳnh Hoàng Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nhiều- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và hợp đồng mượn tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXX-ST, ngày 08 tháng 06 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 139/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần S tiền có ngay.
Trụ sở chính: Số A N, Phường B, Thành phố V, tỉnh Nghệ An (Nay là Số A N, Phường T, tỉnh Nghệ An)
Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAL NAPAT- Chức vụ: Giám đốc Công ty.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Thanh H- Nhân viên Công ty cổ phần S tiền có ngay (theo văn bản uỷ quyền số 114/UQ-SVN ngày 31/01/2024)
Địa chỉ: Ấp L, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là: Ấp L, phường L, thành phố Cần Thơ)
(Ông H có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Trường G , sinh năm 1993
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp H, xã H, tỉnh An Giang).
(Ông G vắng mặt lần 2 không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/03/2024 và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Phạm Thanh H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Theo giấy Đăng ký kinh doanh Công ty cổ phần S tiền có ngay đã đăng ký thì Công ty Cổ phần S1 (sau đây gọi là Công ty) hoạt động ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực Cầm cố tài sản.
Vào ngày 29/11/2022, Ông/bà Lê Trường G có đến chi nhánh Vị Thanh 1 của Công ty tại địa chỉ: E T, K, Phường C, Tp V, để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng số:VTM221102013NA20X được ký giữa các bên ngày 29/11/2022
Thì Ông/bà Lê Trường G có ký hợp đồng cầm cố tài sản là:
+ 01 xe máy: HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31
+ Loại xe: xe máy
+ Màu: NÂU ĐEN
+ Số khung:MH1KF411XLK914717
+ Số máy: KF41E1916919
+ Số Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 066857 Do Công an Tỉnh K cấp ngày 22/06/2020
Để lấy số tiền là 57,939,000 vnđ (Bằng chữ: Năm mươi bảy triệu, chín trăm ba mươi chín ngàn đồng); thời hạn cầm cố là 18 tháng (từ 29/11/2022 -29/05/2024) với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.
Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho Ông/bà Lê Trường G, do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho Ông/bà Lê Trường G mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 29/11/2022 đến 29/12/2022 địa điểm trả xe là tại chi nhánh V. Ông/bà Lê Trường G có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.
Quá trình trả nợ, Ông/bà Lê Trường G chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, Ông/bà Lê Trường G không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe cho Công ty.
Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà Ông/bà Lê Trường G nhưng đều không gặp. Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để Ông/bà Lê Trường G trả lại tiền hoặc tài sản là xe đã cầm cố cho Công ty nhưng Ông/bà Lê Trường G không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh, chiếm đoạt tài sản của Công ty.
Từ nội dung sự việc trên, có thể khẳng định Ông/bà Lê Trường G đã có hành vi cầm cố tài sản cho Công ty, nhận được tiền thông qua hợp đồng cầm cố, Công ty T điều kiện cho mượn lại xe để sử dụng sau đó khi đến hạn, Ông/bà Lê Trường G không thanh toán theo hợp đồng hoặc trả lại xe cho công ty mà chiếm đoạt tài sản công ty.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông G có thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc 32.658.101đ còn nợ lại tiền gốc là 25.280.899đ đến nay chưa thanh toán cho Công ty như đã thoả thuận.
Đối với tài sản cầm cố là 01 xe máy: HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31 theo Hợp đồng cầm cố số: VTM221102013NA20X ngày 29/11/2022 phía Công ty xét thấy hiện nay không còn và phí 32.657.795đ, Công ty có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với vấn đề trên, không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này cam kết không khiếu nại về sau.
Tại phiên toà, ông Phạm Trung H1 là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay yêu cầu: Toà án buộc ông G thanh toán cho công ty số tiền tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884đồng gồm: Tiền gốc là 21.981.600đ; Lãi trong hạn: 2.933.811đ; Lãi quá hạn: 15.801.473 đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 26/7/2025 theo lãi suất của hợp đồng cầm cố cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với tài sản cầm cố là tài sản cầm cố là chiếc xe HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31 theo Hợp đồng cầm cố số: VTM221102013NA20X ngày 29/11/2022 và Phí: 32.657.795đ.
Bị đơn ông Lê Trường G: Trong quá trình giải quyết vụ án ông G đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông G đều không có mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay, buộc ông G thanh toán cho công ty số tiền tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884 đồng gồm: Tiền gốc là 21.981.600đ; Lãi trong hạn: 2.933.811đ; Lãi quá hạn: 15.801.473 đ và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 26/7/2025 theo lãi suất của hợp đồng cầm cố cho đến khi thanh toán dứt nợ.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc rút lại yêu cầu khởi kiện đối với tài sản cầm cố là chiếc xe chiếc xe HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31 theo Hợp đồng cầm cố số: VTM221102013NA20X ngày 29/11/2022 và Phí: 32.657.795đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật và nghị án, Tòa án nhận định:
[ 1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Công ty cổ phần S tiền có ngay yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Trường G trả cho Công ty số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884 đồng (Bốn mươi triệu, bảy trăm mười sáu ngàn, tám trăm tám mươi bốn đồng). Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời bị đơn ông G có nơi cư trú tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp H, xã H, tỉnh An Giang) nên theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang và Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.
- Xét về quan hệ tranh chấp: Việc tranh chấp giữa Công ty cổ phần S tiền có ngay với ông Lê Trường G là tranh chấp “Hợp đồng dân sự cầm cố tài sản và Hợp đồng mượn tài sản” được quy định tại Điều 309 và Điều 494 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân khu vực 5- An Giang đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lê Trường G tham gia phiên tòa nhưng bị đơn ông G vẫn tiếp tục vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do và tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Công ty cổ phần S tiền có ngay yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Trường G phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884 đồng (Bốn mươi triệu, bảy trăm mười sáu ngàn, tám trăm tám mươi bốn đồng) và tiền lãi tiếp theo, kể từ ngày 26/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ. Để chứng minh yêu cầu khởi kiện, Công ty cung cấp hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe đề ngày 29/11/2022 giữa Công ty với ông G. Xét thấy, ông G đã tự nguyên thỏa thuận giao kết và ký kết hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe với Công ty nên có căn cứ xác định giữa Công ty với ông G có giao dịch cầm cố tài sản và mượn tài sản với nhau đối với chiếc xe mô tô kiểm soát BKS 68G1-808.31, nhãn hiệu HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31; Màu: NÂU ĐEN; Số khung:MH1KF411XLK914717; Số máy: KF41E1916919; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 066857 Do Công an Tỉnh K cấp ngày 22/06/2020, theo giấy mượn xe ngày 29/11/2022 là phù hợp với khoản 1 Điều 275, Điều 309, khoản 3 Điều 314, Điều 494 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông G đã vi phạm thanh toán nên Công ty yêu cầu ông G thanh toán số tiền tạm tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884 đồng gồm: Tiền gốc là 21.981.600đ; Lãi trong hạn: 2.933.811đ; Lãi quá hạn: 15.801.473 đ và tiền lãi tiếp theo kể từ ngày 26/7/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ là có căn cứ, phù hợp với định tại các Điều 280, 357, 468 của Bộ luật Dân sự.
Đối với tài sản cầm cố là chiếc xe BKS 68G1-808.31, nhãn hiệu HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31; Màu: NÂU ĐEN; Số khung: MH1KF411XLK914717; Số máy: KF41E1916919; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 066857 Do Công an Tỉnh K cấp ngày 22/06/2020 và phí là 32.657.795đ. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với những vấn đề trên, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên căn cứ vào Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.
Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 309, 310, 311, 316, 357, 463, 466, 468, 470, 494 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay đối với ông Lê Trường G.
1. Buộc ông Lê Trường G có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần S tiền có ngay tổng số tiền tính đến ngày 25/7/2025 là 40.716.884 đồng (Bốn mươi triệu, bảy trăm mười sáu ngàn, tám trăm tám mươi bốn đồng) (Gồm: Tiền gốc là 21.981.600đ; Lãi trong hạn: 2.933.811đ; Lãi quá hạn: 15.801.473đ).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 26/7/2025, ông G còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất thỏa thuận Hợp đồng cầm cố số VTM221102013NA20X ngày 29/11/2022 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Công ty cổ phần S tiền có ngay.
Sau khi ông G thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần S tiền có ngay có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận đăng ký số: 066857 Do Công an Tỉnh K cấp ngày 22/06/2020 cho ông G.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay về việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với tài sản cầm cố là chiếc xe BKS 68G1-808.31, nhãn hiệu HONDA Vario 150 mang biển số: 68G1-808.31; Màu: NÂU ĐEN; Số khung: MH1KF411XLK914717; Số máy: KF41E1916919; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 066857 Do Công an Tỉnh K cấp ngày 22/06/2020 và phí là 32.657.795đ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Lê Trường G phải chịu án phí với số tiền là 2.035.844 đ (Hai triệu, không trăm ba mươi lăm ngàn, tám trăm bốn mươi bốn đồng). Nguyên đơn Công ty cổ phần S tiền có ngay không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009140 ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - An Giang).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (25/7/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 5- An Giang; - Phòng THADS khu vực 5- An Giang; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Toà (đã ký) Lữ Cẩm Nhung |