vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 19/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Quyết định số 01/2024/HSST-QĐ ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về việc giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến Đạt - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày 19/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Linh

Ông Hà Ngọc Lĩnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Huyền Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thanh Liêm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến Đ1 (tên gọi khác: Không) - sinh ngày 21 tháng 02 năm 1986 tại huyện Đ2, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 6, xã V, huyện Đ2, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Thế (đã chết tháng 4/2024) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con: 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Tiến Đ1 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành từ ngày 31/11/2022. Ngày 15/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng ra quyết định số 01/2024/HSST-QĐ giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo, buộc Nguyễn Tiến Đ1 phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng. Hiện chưa chấp hành xong bản án.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 07/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Lê Văn D1, sinh năm 1974 (có mặt);

Nơi cư trú: Khu K, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

+ Chị Vũ Thị L, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ1, thị trấn Y1, huyện Y2, tỉnh Ninh Bình.

+ Anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1974 (có mặt);

+ Chị Lê Thị C, sinh năm 1989 (vắng mặt);

Nơi cư trú: Khu 6, xã V, huyện Đ2, tỉnh Phú Thọ.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 1, phường Đ2 , quận B, Tp. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tiếp nhận tố giác của anh Lê Văn D1, sinh năm 1974, HKTT: Khu K, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ, về việc đêm ngày 24/02/2024 anh đi ngủ và dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, BKS: 19K1-444.26 ở trên hè nhà. Đến 07 giờ 00 phút, sáng ngày 25/02/2024, anh D1 phát hiện bị mất chiếc xe trên, nên đã trình báo Công an huyện Thanh Ba giải quyết. Cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh làm rõ Nguyễn Tiến Đ1, sinh năm 1986, trú tại khu 6, xã V, huyện Đ2, tỉnh Phú Thọ là đối tượng đã trộm cắp chiếc xe trên, cụ thể như sau:

Vào buổi tối ngày 24/02/2024, Nguyễn Tiến Đ1 một mình đi bộ đến địa bàn xã T, huyện P với mục đích đi chơi, tuy nhiên do trời mưa và đường xa nên Đ1 đi vào nhà nghỉ L thuộc khu 1, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ thuê phòng nghỉ số 204 để nghỉ qua đêm, tránh mưa. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, do có quen biết trước và thường xuyên đến nhà anh Lê Văn D1 chơi, nên Đ1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà anh D1. Ngay sau đó, Đ1 trả phòng nghỉ và bắt đầu đi bộ từ Trạm Thản đến nhà anh D1 thuộc địa phận xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Lúc này khoảng 23 giờ 00 phút, nhà anh D1 không có tường rào và cửa cổng ra vào. Đ1 quan sát thấy gia đình anh D1 đã đi ngủ, cửa nhà đóng, điện đã tắt và phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, gắn BKS: 19K1-444.26 của anh D1 đang dựng chân trống phụ trên hè nhà, song song với mép tường nhà, đầu xe hướng vào bếp, đuôi xe hướng về hướng đường bê tông liên khu. Đ1 đi vào sân nhà, để tránh bị phát hiện, Đ1 đi vòng ra phía nhà bếp của gia đình. Đ1 dùng tay kéo cửa nhà bếp ra thì thấy cửa mở được, Đ1 đi vào bếp, quá trình đi xuống bếp Đ1 có quan sát thì thấy anh D1 đang nằm ngủ một mình tại chiếc phản gỗ đôi, kê ở gian phòng khách, phía bên phải theo hướng từ ngoài cửa chính vào. Đ1 đi lên phía trên nhà chính, Đ1 xác định phải lấy được cả đăng ký xe của anh D1. Quan sát phía trên đầu giường anh D1 ngủ, có một chiếc quần vải, màu đen phơi trên dây. Do nhà anh D1 có ánh đèn đường hắt vào, đồng thời có ánh điện phát ra từ cục kích phát wifi, nên Đ1 đã lục chiếc quần trên và lấy được 01 chiếc ví. Đ1 mang xuống bếp, đồng thời bật đèn flash của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu bạc của Đ1 lên để quan sát thấy chiếc ví, dạng ví gập, giả da màu nâu, có 02 ngăn, trong ví có Căn cước công dân, Giấy phép lái xe; Đăng ký xe của chiếc xe Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, gắn BKS: 19K1-444.26 và một vài tờ tiến polyme (Đ1 không rõ cụ thể là bao nhiêu tiền). Đ1 chỉ lấy đăng ký xe ra, đút vào ví của mình, sau đó mang chiếc ví của anh D1 trả lại vào vị trí túi quần bên phải, phía sau như lúc trước. Sau đó, Đ1 đi lại bếp ăn, đi ra phía hè nhà để lấy chiếc xe. Đ1 gạt chân chống xe lên, dắt xe qua hè bếp, xuống sân trước nhà rồi dắt xe ra khỏi nhà anh D1, theo đường bê tông liên xã hướng về Đền Năng Yên, khi đến đoạn nghĩa trang Chăn Nuôi, Đ1 dừng xe lại, bật đèn flash điện thoại, soi vào khu vực đầu xe, dưới mặt nạ, mục đích để tìm dây dắc cắm nguồn của xe. Khi thấy dắc cắm nguồn của xe, Đ1 rút dắc cắm ra, lấy đoạn dây xi nhan của xe, đấu trực tiếp nguồn vào dây đề của xe. Sau khi đấu xong, Đ1 ấn đề xe thì xe nổ máy. Sau khi chiếc xe mô tô trên đã nổ được máy, Đ1 ngồi lên xe, điều khiển xe hướng ra Quốc lộ 2 để đi về thành phố Hà Nội với mục đích bán hoặc cầm cố chiếc xe lấy tiền. Khi điều khiển xe đến khu vực chợ Tiên Phú, thuộc xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Lúc này khoảng hơn 01 giờ ngày 25/02/2024, do trời tối, có mưa nên Đ1 đã điều khiển xe vào trong chợ, dựng chân chống phụ của xe mô tô, kéo rơ le xe ra cho xe tắt máy. Sau đó, Đ1 nằm trên yên xe và ngủ.

Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, Đ1 ngủ dậy và tiếp tục điều khiển xe đi hướng về Hà Nội. Khi đi đến đoạn đường gần khu công nghiệp Phú Hà, thị xã Phú Thọ, Đ1 nhặt được một chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ lưỡi trai thời trang nửa đầu, màu đen, nằm ở rề đường bên phải theo hướng đang đi. Đ1 đội mũ và điều khiến xe xuống thẳng Hà Nội. Trên đường đi qua chợ Bồ Sao thuộc địa phận huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc khoảng 200m, Đ1 gặp một người nam giới khoảng 40 tuổi (Không rõ tên, tuổi địa chỉ), điều khiển xe máy đi rao đánh chìa khoá dạo nên Đ1 đã đánh chìa khá hết số tiền 50.000 đồng, rồi tiếp tục điều khiển xe theo hướng quốc lộ 2, khoảng hơn 09 giờ ngày 25/02/2024, Đ1 về đến Hà Nội. Sau đó Đ1 điều khiển xe đi đến cửa hàng cầm đồ đề tên ở biển là “Cầm đồ 22”, tại số nhà 22, tổ 1, phường Đ3, quận B, thành phố Hà Nội, do anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1970, trú tại Tổ 1, phường Đ3, quận B, thành phố Hà Nội là chủ cửa hàng. Tại đây, anh N và Đ1 có thoả thuận thống nhất với nhau, theo đó Đ1 cầm cố chiếc xe nêu với số tiền 9.000.000 đồng, lãi suất 10.000 đồng/09 triệu/01 ngày, thời hạn cầm cố từ ngày 25/02/2024 đến 25/03/2024 và có ghi vào trong giấy cầm cố xe. Sau khi viết xong giấy cầm cố xe, Đ1 chuyển lại cho anh N xe mô tô cùng với 01 chìa khoá xe vừa đánh, 01 đăng ký xe của chiếc xe mô tô nêu trên và nhận số tiền 9.000.000 đồng. Sau đó, Đ1 lang thang, không có nơi ở cố định và chi tiêu gần hết số tiền đã cắm xe, chỉ còn lại 420.000 đồng. Đến ngày 29/02/2024, Đ1 được Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ triệu tập về trụ sở Công an huyện để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến Đ1 khai nhận, toàn bộ hành vi của mình và tự nguyện giao nộp: 01 chiếc quần dài (Dạng quần gió), màu đen, phần cạp quần có gắn dây rút hai đầu, bên dưới túi quần trái có in nối 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) chiếc áo khoác (Dạng áo khoác gió), màu đen, mỗi vạt áo đều được may hai sọc kẻ màu trắng, phần ngực áo bên trái được in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 đôi giày (Dạng giày thể thao), kích cỡ 40cm, màu tím than, phần đế giày được làm bằng cao su, màu đen, phần bao giày đều được thêu hoạ tiết cách điệu màu xanh dương; 01 chiếc mũ cối, bọc vải màu xanh, phần đỉnh mũ được gắn chóp làm bằng kim loại bọc vải màu xanh, bên trong vành mũ được in chìm dòng chữ dạng chữ Trung Quốc màu vàng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus, màu xám, số IMEI: 354381065876712, gắn sim số thuê bao 0342308199; 01 chiếc ví giả da, màu nâu, phần da phía ngoài được in chìm các hoạ tiết; các tài sản đều đã qua sử dụng, đây là trang phục Đ1 mặc và các công cụ khi đi trộm cắp tài sản nhà anh Lê Văn D2.

Ngoài ra Đ1 còn tự giao nộp số tiền 420.000 đồng, là số tiền Đ1 cắm chiếc xe trộm cắp tại nhà anh D2, Đ1 đã tiêu sài cá nhân chỉ còn lại số tiền trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Tiến Đ1, Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Văn N đến để làm việc, tại cơ quan điều tra anh N đã nhận dạng và xác định Nguyễn Tiến Đ1 chính là người đã cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 19K1-444.26, cho anh N, khi cầm cố Đ1 nói với anh N là xe của Đ1 mua lại, anh N không biết tài sản do trộm cắp mà có. Anh N tự nguyện giao nộp: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, số khung: RLHJA3925NY219939, số máy: JA39E2716929, gắn BKS 19K1-444.26; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 19K1-444.26, tên chủ xe Lê Văn D1, cấp ngày 14/7/2022; 01 chiếc chìa khóa xe mô tô, màu đen; 01 bản hợp đồng cầm đồ giữa anh N và Đ liên quan đến xe mô tô BKS: 19K1-444.26 để phục vụ công tác điều tra.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba đã yêu cầu định giá tài sản đối với 01 chiếc xe mô tô do Đạt trộm cắp của anh Lê Văn Dung. Tại kết luận số 12 ngày 05/3/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, xanh-đen-bạc, số khung: RLHJA3925NY219939, số máy: JA39E2716929, gắn BKS: 19K1-444.26 mua mới năm 2022, xe đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 02/2024 có trị giá là: 10.800.000 đồng.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 19K1-444.26 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy nêu trên, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Văn D1. Ngày 02/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã trả lại chiếc xe và giấy đăng ký nêu trên cho anh Lê Văn D1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với hành vi cho Nguyễn Tiến Đ1 cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, gắn BKS: 19K1-444.26 của Nguyễn Văn N. Khi cho cầm cố xe, anh N không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô nêu trên là do Đ1 trộm cắp mà có. Do vậy, hành vi của anh Nguyễn Văn N không cấu thành tội phạm. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba không đề cập hình thức xử lý mà giáo dục, nhắc nhở.

Đối với người đàn ông ở làm khóa ở khu vực chợ Bồ Sao thuộc địa phận huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc mà Nguyễn Tiến Đ1 khai nhận đã thuê để làm lại chiếc chìa khóa của xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, xanh-đen-bạc, gắn BKS: 19K1-444.26. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba tiếp tục tổ chức xác minh, khi nào đủ căn cứ thì xử lý theo quy định.

Ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, Nguyễn Tiến Đ1 khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác tại địa bàn quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội và huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 07/01/2021, tại phòng trọ số nhà 01, ngõ 4 Kiều Mai, Tổ dân phố 12, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 07/01/2021, chị Vũ Thị L, sinh năm 1993, trú tại TDP Đ2, thị trấn Y1, huyện Y2, tỉnh Ninh Bình có để 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB của chị L ở giường ngủ phòng trọ số 12, thuộc số nhà 1, ngõ 4 K, tổ dân phố số 12, phường P, quận B, TP. Hà Nội, sau đó chị L đi ra nhà vệ sinh chung ở cuối dãy nhà trọ để cất chậu nhựa, khi đi chị L không khoá cửa phòng trọ mà chỉ khép cửa. Lúc này, Nguyễn Tiến Đ1, đang thuê và ở phòng trọ số 9, đối diện phòng trọ của chị L có quan sát và phát hiện chiếc điện thoại của chị L để ở giường, nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đ1 nhanh chóng đi lại mở cửa vào phòng trọ của chị L rồi trộm cắp chiếc điện thoại di động của chị L để ở giường cất giấu vào túi quần rồi đi ra khỏi phòng trọ, sau đó, Đ1 điều khiển chiếc xe máy của Đ1 bỏ trốn khỏi nhà trọ và mang bán chiếc điện thoại trộm cắp được bán cho một người phụ nữ, khoảng hơn 30 tuổi tại cửa hàng điện thoại di động (Nhưng do thời gian đã lâu Đ1 không nhớ tên, địa chỉ cửa hàng) với giá 3.000.000 đồng, toàn bộ số tiền này Đ1 đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi đi về gần đến phòng trọ của mình thì thấy Đ1 đi từ phòng trọ của mình đi ra, chị L vào phòng kiểm tra thì phát hiện chiếc điện thoại của mình để ở giường đã bị mất. Chị L nghi ngờ Đ1 đã trộm cắp chiếc điện thoại của mình nên sang phòng trọ tìm Đ1 thì phòng đã khóa cửa, không liên lạc được với Đ1. Do vậy, chị L đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc nêu trên.

Cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng (Có tài sản tương tự kèm theo do chưa thu giữ được tài sản), là tài sản bị trộm cắp của chị Vũ Thị L.

Tại kết luận định giá số 108, ngày 18/3/2024, Hội đồng định giá tài sản quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội kết luận: 01 (Một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng (Có tài sản tương tự kèm theo do chưa thu giữ được tài sản) tại thời điểm tháng 01/2021 có trị giá là: 6.000.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB, đã qua sử dụng mà Nguyễn Tiến Đ1 trộm cắp vào ngày 07/01/2021 của chị Vũ Thị L, Cơ quan CSĐT quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã ra Thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba sẽ tiếp tục phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội để xác minh và truy tìm để làm rõ các nội dung có liên quan.

* Vụ 2: Vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/01/2024 tại khu 6, xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, Nguyễn Tiến Đ1 đi bộ một mình từ nhà ở thuộc khu 6, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ đến nhà anh Nguyễn Văn D2, sinh năm 1974, thuộc khu 6, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (nhà anh D2 cách nhà Đ1 khoảng 500m) để chơi, uống nước. Tuy nhiên, khi đến nhà anh D2, Đ1 thấy không có ai ở nhà, cửa chính khoá nên Đ1 nảy sinh ý định đột nhập vào trong nhà anh D2 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Đ1 đi men theo bên trái nhà, theo hướng từ ngoài nhìn vào ra phía sau nhà thấy có 01 (Một) chiếc cửa làm bằng nhôm kính, Đ1 dùng tay mở cửa thì thấy cửa này cũng khoá. Đ1 đi vào bên trong bếp thấy có 01 (một) tuýp sắt, kích thước 93cm, đường kính 4cm, Đ1 cầm tuýp sắt này đi ra vị trí cửa nhôm kính sau nhà, đưa một đầu của tuýp sắt vào tay nắm cửa, dùng hai tay cầm một đầu còn lại của tuýp sắt, bẻ, cậy khiến tay nắm cửa và ốp tay nắm cửa gãy rời, nhưng chưa mở được cửa. Đ1 đặt tuýp sắt dựa vào tường cách cửa khoảng 1m rồi lấy 01 (một) chiếc xà cầy, bằng sắt, màu nâu đã rỉ sét, dài 84cm, đang để dựa ở góc tường bên phải cách cửa sau nhà khoảng 3m. Đ1 cầm chiếc xà cầy dùng đầu cong của chiếc xà cầy đưa vào mép cửa, đầu còn lại dùng cả hai tay bẩy mạnh nhiều lần khiến cánh cửa bung ra. Đ1 để chiếc xà cầy dựa vào tường, sau đó đi vào trong nhà lên phòng khách của nhà anh Dũng quan sát không có đồ vật, tài sản nào có giá trị, nên Đ1 đi đến mở cửa phòng ngủ của anh D2, thấy cửa này đang khóa. Đ1 đi ra phía ngoài lấy chiếc xà cầy trước đó với mục đích để phá cửa phòng ngủ này, hai tay Đ1 cầm một đầu của chiếc xà cầy, chọc mạnh đầu nhọn vào ô cửa kính ở ngang với ổ khoá và tay nắm cửa. Đ1 chọc khoảng 03 đến 04 lần thì ô kính bị vỡ rịa và thủng một lỗ. Sau đó, Đ1 đưa tay phải luồn vào bên trong cửa, mở chốt khoá rồi vặn tay nắm mở cửa. Khi vào trong phòng ngủ, Đ1 quan sát phía bên tay phải buồng ngủ theo hướng từ ngoài cửa đi vào có một chiếc tủ bằng tôn, để quần áo. Đ1 dùng tay mở cánh cửa tủ để lục, tìm kiếm tài sản, khi lục tìm ở ngăn tủ đầu tiên bên trái theo hướng nhìn vào, Đ1 thấy bên dưới một số bộ quần áo có 01 (một) buộc tiền, kiểm tra thì thấy buộc tiền này đều có mệnh giá 500.000 đồng, buộc bằng dây nịt màu vàng. Đ1 cầm số tiền này cất giấu vào trong túi áo của mình sau đó nhanh chóng đi ra cửa sau bếp, men theo tường nhà phía bên phải nhà theo hướng nhìn vào, Đ1 cầm chiếc xà cầy giấu vào trong gốc cây cà phía trước cửa nhà anh D2, rồi về nhà ở của mình. Khi về nhà Đ1 kiểm đếm số tiền đã trộm cắp tại nhà ở của anh D1 được tổng số tiền 13.500.000 đồng. Sau đó, Đ1 sử dụng số tiền trộm cắp trên vào mục đích tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi biết bị mất tài sản tổng số tiền là 13.500.000 đồng, anh D2 đã trình báo Công an huyện Đoan Hùng để giải quyết. Anh D2 trình bày đây là tài sản chung của vợ chồng anh D2 do lao động tích cóp mà có. Tại Cơ quan điều tra Công an huyện Đoan Hùng anh Dũng tự nguyện giao nộp: 01 thanh kim loại (Xà cầy), bằng sắt, màu nâu, đã hoen gỉ, kích thước chiều dài 84cm, có một đầu nhọn, đầu còn lại được uốn cong, đập bẹp, chia hai nửa bằng nhau; 01 tuýp sắt, màu trắng đã bị gỉ sét, kích thước dài 93cm, đường kính 4cm, một đầu có gắn đai bằng kim loại, có ốc vít, đầu còn lai bị hoen gỉ.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã Yêu cầu định giá tài sản đối với: 02 (Hai) cánh cửa nhôm kính bị hư hỏng, thiệt hại, do hành vi trộm cắp tài sản của Đ1 tại nhà anh D2 gây ra. Tại kết luận định giá tài sản số 14 ngày 19/04/2024, kết luận: Giá trị thay thế sửa chữa 02 cánh cửa nhôm kính bị hư hỏng ngày 23/01/2024 của anh Nguyễn Văn D2, tại thời điểm tháng 01/2024 có trị giá: 1.100.000 đồng. Gồm: Thay mới 01 ô kính vào cửa nhôm kính phòng ngủ 50.000 đồng, công thay kính phòng ngủ: 500.000 đồng; thay khóa cửa kính nhãn hiệu AG cửa nhôm kính phía sau nhà 300.000 đồng, Gioăng cao su đệm cửa 50.000 đồng, công thay khóa cửa sau nhà và gioăng 200.000 đồng.

Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản ngày 23/01/2024, tại nhà ở của ông Nguyễn Văn D2, sinh năm 1974, thuộc khu 6, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ của Nguyễn Tiến Đ1. Ngày 28/4/2024, Công an huyện Đoan Hùng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Tiến Đ1 về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 5.000.000 đồng.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Tiến Đ1, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đoan Hùng đã bàn giao toàn bộ hồ sơ và vật chứng vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba để giải quyết theo thẩm quyền.

* Về vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ: Quá trình điều tra xác định:

- 01 (Một) thanh kim loại (Xà cầy), bằng sắt, màu nâu đã hoen gỉ, kích thước chiều dài 84cm, có một đầu nhọn, đầu còn lại được uốn cong, đập bẹp, chia hai nửa bằng nhau;

- 01 (Một) tuýp sắt, màu trắng đã bị gỉ sét, kích thước dài 93cm, đường kính 4cm, một đầu có gắn đai bằng kim loại, có ốc vít, đầu còn lại bị hoen gỉ, đây là tài sản của anh Nguyễn Văn D2, Đ1 đã sử dụng để phá khóa và cửa của nhà anh Dũng để trộm cắp tài sản;

- 01 (Một) chiếc quần dài (Dạng quần gió), màu đen, bên dưới túi quần trái có in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng;

- 01 (Một) chiếc áo khoác (Dạng áo khoác gió), màu đen, mỗi vạt áo đều được may hai sọc kẻ màu trắng, phần ngực áo bên trái được in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng;

- 01 (Một) đôi giày (Dạng giày thể thao), kích cỡ 40cm, màu tím than, phần đế giày được làm bằng cao su, màu đen, phần bao giày đều được thêu hoạ tiết cách điệu màu xanh dương;

- 01 (Một) chiếc mũ cối, bọc vải màu xanh, phần đỉnh mũ được gắn chóp làm bằng kim loại bọc vải màu xanh, bên trong vành mũ được in chìm dòng chữ dạng chữ Trung Quốc màu vàng, là trang phục Nguyễn Tiến Đ1 mặc khi đi trộm cắp tài sản nhà anh Lê Văn Dung.

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus, màu Xám, số IMEI: 354381065876712. Gắn sim số thuê bao 0342308199. Điện thoại đã qua sử dụng, không có mật khẩu khóa màn hình là điện thoại Đ1 dùng để soi đèn trộm cắp tài sản nhà anh Lê Văn D1, và soi để đấu nối mở khóa đề nổ xe mô tô trộm cắp được của anh D1.

- 01 (Một) chiếc chìa khoá, màu đen, phần chuôi khoá được dán băng dính màu trắng, bên trên mặt của băng dính có ghi dòng số: 1944426, bằng mực màu xanh. Là chiếc chìa khóa Đ1 đánh để mở khóa điện xe mô tô trộm cắp được của anh D1.

- 01 (Một) chiếc ví giả da (Loại ví gấp), màu nâu, phần da phía ngoài được in chìm các họa tiết, hoa văn cách điệu là tài sản cá nhân của Đ1.

- Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 420.000 đồng là số tiền còn lại Đ1 cầm cố xe mô tô trộm cắp được mà có.

Cơ quan điều tra đề nghị chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba để phục vụ công tác xét xử.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Vũ Thị L, là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản ngày 07/01/2021, tại phòng trọ số 12, số nhà 01, ngõ 4 K, Tổ dân phố 12, phường P, quận B, Tp. Hà Nội, đề nghị Nguyễn Tiến Đ1 phải bồi thường cho chị số tiền 3.000.000 đồng đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB mà Nguyễn Tiến Đ1 đã trộm cắp của chị L. Ngoài ra, chị L không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

- Anh Nguyễn Văn D2, chị Lê Thị C, là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản ngày 23/01/2024 tại khu 6, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, yêu cầu Đ1 phải trả lại số tiền đã trộm cắp 13.500.000 đồng là số tiền mà Đ1 đã trộm cắp của anh D2, chị C và bồi thường bằng tiền theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Đoan Hùng đối với số tài sản của gia đình anh D2, bị hại Đ1 làm hư hỏng là 1.100.000 đồng. Ngoài ra, anh D2, chị C không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

- Anh Lê Văn D1 là bị hại trong vụ trộm cắp tài sản ngày 24/02/2024, tại khu K, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, xanh-đen-bạc. Đối với việc Đ1 tháo đấu dây dẫn điện và dây cắm đề, anh D1 tự đấu lại xe hoạt động bình thường, anh D1 không đề nghị gì về mặt dân sự.

- Anh Nguyễn Văn N là người đã cho Nguyễn Tiến Đ1 cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, gắn BKS: 19K1-444.26, đề nghị Nguyễn Tiến Đ1 bồi thường số tiền 9.000.000 đồng là số tiền mà anh N đã trả cho Đạt để cầm cố chiếc xe mô tô nêu trên. Ngoài ra, anh N không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSTB ngày 23 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 56; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tiến Đ1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án đã cho hưởng án treo số: 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/3/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ1.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Trả lại anh Nguyễn Văn D2: 01 (Một) thanh kim loại (Xà cầy), bằng sắt, màu nâu đã hoen gỉ, kích thước chiều dài 84cm, có một đầu nhọn, đầu còn lại được uốn cong, đập bẹp, chia hai nửa bằng nhau; 01 (Một) tuýp sắt, màu trắng đã bị gỉ sét, kích thước dài 93cm, đường kính 4cm, một đầu có gắn đai bằng kim loại, có ốc vít, đầu còn lại bị hoen gỉ.

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Tiến Đ1: 01 (Một) chiếc ví giả da (Loại ví gấp), màu nâu, phần da phía ngoài được in chìm các họa tiết, hoa văn cách điệu.

+ Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) chiếc quần dài (Dạng quần gió), màu đen, bên dưới túi quần trái có in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) chiếc áo khoác (Dạng áo khoác gió), màu đen, mỗi vạt áo đều được may hai sọc kẻ màu trắng, phần ngực áo bên trái được in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) đôi giày (Dạng giày thể thao), kích cỡ 40cm, màu tím than, phần đế giày được làm bằng cao su, màu đen, phần bao giày đều được thêu hoạ tiết cách điệu màu xanh dương; 01 (Một) chiếc mũ cối, bọc vải màu xanh, phần đỉnh mũ được gắn chóp làm bằng kim loại bọc vải màu xanh, bên trong vành mũ được in chìm dòng chữ dạng chữ Trung Quốc màu vàng; 01 (Một) chiếc chìa khoá, màu đen, phần chuôi khoá được dán băng dính màu trắng, bên trên mặt của băng dính có ghi dòng số: 1944426, bằng mực màu xanh và 01 sim số 0342308199 gắn trong điện thoại của bị cáo.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus, màu Xám, số IMEI: 354381065876712. Gắn sim số thuê bao 0342308199, điện thoại đã qua sử dụng, không có mật khẩu khóa màn hình, của Nguyễn Tiến Đ1; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 420.000 đồng.

- Xác nhận bị hại là anh Lê Văn D2 đã nhận lại: 01 (Một) chiếc xe mô tô Honda Wave α, xanh-đen-bạc, số khung: RLHJA3925NY219939, số máy: JA39E2716929, gắn BKS 19K1-444.26; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 19K1-444.26, tên chủ xe Lê Văn D2, cấp ngày 14/7/2022. (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ).

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự:

+ Buộc bị cáo Đ1 phải bồi thường cho chị Vũ Thị L số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

+ Buộc bị cáo Đ1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D2, chị Lê Thị C số tiền 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

+ Buộc bị cáo Đ1 trả lại anh Nguyễn Văn N số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại là anh Lê Văn D1 và anh Nguyễn Văn D2 không có tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Ba, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo đã Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng của vụ án, kết luận định giá và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian các ngày 07/01/2021, 23/01/2024 và 24/02/2024 Nguyễn Tiến Đ1 đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 07 tháng 01 năm 2021, tại phòng trọ số 12, thuộc số nhà 1, ngõ 4 Kiều Mai, tổ dân phố số 12, phường P, quận B, TP. Hà Nội, Nguyễn Tiến Đ1 đã trộm cắp của chị Vũ Thị L, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB. Trị giá tài sản trộm cắp là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 23/01/2024, tại nhà ở của anh Nguyễn Văn D2, thuộc khu 6, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Tiến Đ1 đã trộm cắp số tiền 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng) của vợ chồng anh Nguyễn Văn D2, chị Lê Thị C.

Lần thứ 3: Khoảng 23 giờ ngày 24/02/2024 tại nhà ở của anh Lê Văn D1 thuộc khu K, xã Q, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Tiến Đ1 đã trộm cắp 01 (Một) chiếc xe Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, gắn BKS 19K1-444.26, đứng tên chủ sở hữu là anh Lê Văn D1. Trị giá tài sản trộm cắp là 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng).

Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn lén lút chiếm đoạt cho bản thân. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là: 30.300.000 đồng (Ba mươi triệu ba trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”

Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào quyền sở hữu của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và có hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản với giá trị tài sản mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Tại bản án số 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ, xử phạt Nguyễn Tiến Đ1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ ra quyết định số 01/2024/HSST-QĐ giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo, buộc Nguyễn Tiến Đ1 phải chấp hành hình phạt 09 tháng tù tại Bản án số 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo Đ1 chưa chấp hành xong bản án lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phải chịu 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS 2015, được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong bản án, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo và coi thường pháp luật. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị xử phạt bị cáo Đ1 từ 24 tháng đến 30 tháng tù là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị “phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, đại diện Viện kiểm sát đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô Honda Wave α, gắn BKS 19K1-444.26 và 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy nêu trên, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Văn D1. Ngày 02/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã trả lại chiếc xe và giấy đăng ký nêu trên cho anh Lê Văn D1 là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) thanh kim loại (Xà cầy), bằng sắt, màu nâu đã hoen gỉ, kích thước chiều dài 84cm, có một đầu nhọn, đầu còn lại được uốn cong, đập bẹp, chia hai nửa bằng nhau; 01 (Một) tuýp sắt, màu trắng đã bị gỉ sét, kích thước dài 93cm, đường kính 4cm, một đầu có gắn đai bằng kim loại, có ốc vít, đầu còn lại bị hoen gỉ, Đ1 đã sử dụng để phá khóa và cửa của nhà anh D2 để trộm cắp tài sản, đây là tài sản của anh Nguyễn Văn D2 cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn D2 do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015.

Đối với 01 (Một) chiếc quần dài (Dạng quần gió), màu đen, bên dưới túi quần trái có in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) chiếc áo khoác (Dạng áo khoác gió), màu đen, mỗi vạt áo đều được may hai sọc kẻ màu trắng, phần ngực áo bên trái được in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) đôi giày (Dạng giày thể thao), kích cỡ 40cm, màu tím than, phần đế giày được làm bằng cao su, màu đen, phần bao giày đều được thêu hoạ tiết cách điệu màu xanh dương; 01 (Một) chiếc mũ cối, bọc vải màu xanh, phần đỉnh mũ được gắn chóp làm bằng kim loại bọc vải màu xanh, bên trong vành mũ được in chìm dòng chữ dạng chữ Trung Quốc màu vàng và 01 sim số 0342308199 gắn trong điện thoại của bị cáo. Do bị cáo không đề nghị lấy lại và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus, màu Xám, số IMEI: 354381065876712 gắn sim số 0342308199. Điện thoại đã qua sử dụng, không có mật khẩu khóa màn hình là điện thoại Đ1 dùng để soi đèn trộm cắp tài sản nhà anh Lê Văn D1, và soi để đấu nối mở khóa đề nổ xe mô tô trộm cắp được của anh D1, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015.

Đối với 01 (Một) chiếc chìa khoá, màu đen, phần chuôi khoá được dán băng dính màu trắng, bên trên mặt của băng dính có ghi dòng số: 1944426, bằng mực màu xanh. Đây là chiếc chìa khóa Đ1 đánh để mở khóa điện xe mô tô trộm cắp được của anh D1, do tài sản không có giá trị sử dụng được nên cần tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015.

Đối với 01 (Một) chiếc ví giả da (Loại ví gấp), màu nâu, phần da phía ngoài được in chìm các họa tiết, hoa văn cách điệu; đây là tài sản cá nhân của Đ1, không phải là vật chứng nên trả lại cho chủ sở hữu là bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015.

Đối với số tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 420.000 đồng là số tiền còn lại Đạt cầm cố xe mô tô trộm cắp được mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015.

Trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là chị Vũ Thị L đề nghị bị cáo Đ1 phải bồi thường cho chị số tiền 3.000.000 đồng đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy note 9, màu đen, dung lượng 128GB mà Nguyễn Tiến Đ1 đã trộm cắp của chị L. Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS 2015, chấp nhận yêu cầu của chị L buộc bị cáo Đ1 trả lại số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho chị Vũ Thị L là phù hợp.

Người bị hại là anh Nguyễn Văn D2, chị Lê Thị C, đề nghị bị cáo Đ phải trả lại số tiền đã trộm cắp của anh D2, chị C là 13.500.000 đồng và bồi thường bằng tiền theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đối với số tài sản của gia đình anh D2, bị cáo Đ1 làm hư hỏng là 1.100.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 48 BLHS 2015, chấp nhận yêu cầu của anh D2, chị C, buộc bị cáo Đ1 trả lại tổng số tiền 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) cho anh Nguyễn Văn D2, chị Lê Thị C là phù hợp.

Xác nhận ngày 24/02/2024, bị hại là anh Lê Văn D1 đã nhận lại những tài sản bị trộm cắp là: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, xanh-đen-bạc, BKS 19K1-444.26 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy nêu trên. Anh D1 không đề nghị gì về mặt dân sự, vì vậy không giải quyết về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Đ1 và anh D1 trong vụ án là phù hợp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn N đề nghị Nguyễn Tiến Đ1 bồi thường số tiền 9.000.000 đồng là số tiền mà anh N đã trả cho Đạt để cầm cố chiếc xe mô tô Honda Wave α, màu xanh-đen-bạc, gắn BKS: 19K1-444.26. Căn cứ Điều 48 BLHS 2015, chấp nhận yêu cầu của anh N, buộc bị cáo Đ1 trả lại số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) cho anh Nguyễn Văn N là phù hợp.

Vấn đề khác: Đối với hành vi Nguyễn Tiến Đ1 cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, gắn BKS: 19K1-444.26 của Nguyễn Văn N. Khi cho cầm cố xe, anh N không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô nêu trên là do Đạt trộm cắp mà có, anh Ninh đã xuất trình đủ các giấy tờ đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ, giấy tờ đảm bảo an toàn phòng cháy và mức lãi suất cho vay không cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ không đề cập xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Án phí: Bị cáo Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tiến Đ1.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù tại Quyết định số 01/2024/HSST-QĐ ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về việc giải quyết đề nghị buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo số: 51/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 07/3/2024.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ1.

4. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Trả lại anh Nguyễn Văn D2: 01 (Một) thanh kim loại (Xà cầy), bằng sắt, màu nâu đã hoen gỉ, kích thước chiều dài 84cm, có một đầu nhọn, đầu còn lại được uốn cong, đập bẹp, chia hai nửa bằng nhau; 01 (Một) tuýp sắt, màu trắng đã bị gỉ sét, kích thước dài 93cm, đường kính 4cm, một đầu có gắn đai bằng kim loại, có ốc vít, đầu còn lại bị hoen gỉ.

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Tiến Đ1: 01 (Một) chiếc ví giả da (Loại ví gấp), màu nâu, phần da phía ngoài được in chìm các họa tiết, hoa văn cách điệu.

+ Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) chiếc quần dài (Dạng quần gió), màu đen, bên dưới túi quần trái có in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) chiếc áo khoác (Dạng áo khoác gió), màu đen, mỗi vạt áo đều được may hai sọc kẻ màu trắng, phần ngực áo bên trái được in nổi 3 hình kẻ sọc và dòng chữ “adidas” đều màu trắng; 01 (Một) đôi giày (Dạng giày thể thao), kích cỡ 40cm, màu tím than, phần đế giày được làm bằng cao su, màu đen, phần bao giày đều được thêu hoạ tiết cách điệu màu xanh dương; 01 (Một) chiếc mũ cối, bọc vải màu xanh, phần đỉnh mũ được gắn chóp làm bằng kim loại bọc vải màu xanh, bên trong vành mũ được in chìm dòng chữ dạng chữ Trung Quốc màu vàng; 01 (Một) chiếc chìa khoá, màu đen, phần chuôi khoá được dán băng dính màu trắng, bên trên mặt của băng dính có ghi dòng số: 1944426, bằng mực màu xanh và 01 sim số 0342308199 gắn trong điện thoại của bị cáo.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 Plus, màu Xám, số IMEI: 354381065876712. Gắn sim số thuê bao 0342308199, điện thoại đã qua sử dụng, không có mật khẩu khóa màn hình, của Nguyễn Tiến Đ1; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 420.000 đồng

- Xác nhận bị hại là anh Lê Văn D1 đã nhận lại: 01 (Một) chiếc xe mô tô Honda Wave α, xanh-đen-bạc, số khung: RLHJA3925NY219939, số máy: JA39E2716929, gắn BKS 19K1-444.26; 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 19K1-444.26, tên chủ xe Lê Văn D1, cấp ngày 14/7/2022. (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ).

(Các đồ vật nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; Số tiền tịch thu nộp ngân sách Nhà nước hiện đang tạm giữ tại theo các Giấy nộp tiền ngày 06/3/2024, của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thanh Ba).

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự:

+ Buộc bị cáo Đ1 phải bồi thường cho chị Vũ Thị L số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

+ Buộc bị cáo Đ1 phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D, chị Lê Thị C số tiền 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

+ Buộc bị cáo Đ1 trả lại anh Nguyễn Văn N số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn chậm phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tiến Đ1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.330.000đ (Một triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ