vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 01/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Thạch Ngọc Chương 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng 06 năm 2023.

Xử phạt: Dương Tấn H1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Trộm cắp tài sản”. Giao bị cáo Dương Tấn H1 về Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong giai đoạn thi hành án. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch Ngọc Ch và Dương Tấn H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Thạch Ngọc Chương 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng 06 năm 2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày 01 - 02 - 2024.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính.

2. Ông Huỳnh Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 01 và ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 318/2023/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/QĐST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Thạch Ngọc C, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2002 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi tạm trú: không có nơi tạm trú rõ ràng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Chăm; giới tính: nam; tôn giáo: Bà La M; quốc tịch Việt Nam; tên cha: không rõ và bà Thạch Thị Kim H; nhân thân: Ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số: 228/2018/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/6/2020, đã xóa án tích; tiền sự: Ngày 01/7/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 07/10/2022; tiền án: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2023 đến nay. (có mặt)

2. Họ và tên: Dƣơng Tấn H1; tên khác: S; sinh năm 1996 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nơi tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn V, số A, Tổ A, Ấp D, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Chăm; giới tính: nam; tôn giáo: Bà La M; quốc tịch Việt Nam; con ông Dương Tấn X và bà Hán Thị T; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/06/2023 đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Thạch Ngọc C: Bà Trần Thị H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. (có mặt)

- Bị hại:

2.1. Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1985.

2.2. Bà Hồ Thị Thu T2, sinh năm 1985.

Cùng địa chỉ: G đường Đ, Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút đêm 30/5/2023, Dương Tấn H1 điều khiển xe máy Yamaha Sirius biển số 85B1-707.08 chở Thạch Ngọc C đi ngang qua nhà của vợ chồng bà Hồ Thị Thu T2 và ông Lê Thanh T1 địa chỉ G ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì C phát hiện cửa chính nhà không khóa. C nói với H1 đứng ngoài cảnh giới còn C leo cổng rào vào nhà tìm tài sản để trộm cắp thì H1 đồng ý. Chương lén lút vào trong nhà tìm thấy 01 cái ví da bên trong có 2.200.000 đồng, C lấy hết số tiền bỏ vào túi quần rồi bỏ lại ví trên nền nhà. C tiếp tục phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Vivo V25 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 đang sạc pin nên C lấy 02 điện thoại bỏ vào túi quần. Chương mở cửa tủ gỗ thì phát hiện 01 con heo đất và 01 túi xách bằng vải Jean màu xanh bên trong có 01 cọc tiền thì C lấy cọc tiền này và con heo đất rồi leo cổng ra ngoài lên xe H1 chờ sẵn và cả hai tẩu thoát. Chạy được khoảng 100 mét thì cả hai dừng lại, C đập con heo đất lấy hết số tiền bên trong rồi cả hai đi về khách sạn T6 địa chỉ 1506 Ấp C, xã Đ, huyện H để kiểm tra số tài sản trộm cắp được. Cả hai đếm số tiền trộm cắp được 50.215.000 đồng. C lấy 25.215.000 đồng cùng 02 điện thoại di động trên còn H1 được chia 25.000.000 đồng. Sau đó cả hai trả phòng khách sạn, H1 chở C đến bến xe B để đón xe về Ninh Thuận còn H1 đến Bệnh viện H4 để thanh toán tiền viện phí rồi thuê xe chở vợ con cùng về Ninh Thuận.

Qua trình điều tra, Thạch Ngọc C và Dương Tấn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Chương giao nộp 2.000.000 đồng, H1 giao nộp 85.000 đồng tiền trộm cắp được còn lại sau khi đã tiêu xài.

Kết luận định giá tài sản số: 118/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện H xác định: 01 điện thoại di động hiệu Vivo V25 màu vàng, Ram 8GB, dung lượng 128GB trị giá: 3.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A15 màu trắng, Ram 3GB, dung lượng 32GB trị giá 1.200.000 đồng; 01 con heo đất màu vàng, không rõ kích thước, không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá. Tổng số tiền là: 4.700.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 298/Ctr-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Thạch Ngọc C và bị cáo Dương Tấn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai trong quá trình điều tra, lời khai tại phiên tòa của các bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thạch Ngọc C và bị cáo Dương Tấn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Thạch Ngọc C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; bị cáo Dương Tấn H1 từ 02 năm đến 03 năm tù;

Người bào chữa cho bị cáo Thạch Ngọc C - bà Trần Thị H2 là Trợ giúp viên pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H xác định: nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp. Tuy nhiên, cần xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại và bị cáo là người dân tộc thiểu số là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa những sai lầm, sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Ngọc C và bị cáo Dương Tấn H1 cùng khai nhận:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 30/5/2023, Dương Tấn H1 điều khiển xe máy chở Thạch Ngọc C đi ngang nhà địa chỉ: G Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Thạch Ngọc C phát hiện cửa chính nhà không khóa. Nên Dương Tấn H1 đứng ngoài cảnh giới, Thạch Ngọc C leo qua cổng rào vào nhà lấy trộm 02 điện thoại di động và 50.215.000 đồng của bà Hồ Thị Thu T2 và ông Lê Thanh T1. Sau đó, Thạch Ngọc C chia cho Đương Tấn H3 25.000.000 đồng; phần tiền còn lại và 02 điện thoại di động Thạch Ngọc C giữ lại chi tiêu cá nhân đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 30/5/2023, Dương Tấn H1 và Thạch Ngọc C lợi dụng sự sơ hở của chủ nhà tại địa chỉ số: G ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Thạch Ngọc C vào nhà lấy trộm 50.215.000 đồng tiền mặt và 02 điện thoại di động trị giá 4.700.000 đồng của bà Hồ Thị Thanh T3 và ông Lê Thanh T1 và sau đó chia tiền cho Dương Tấn H1 đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Do đó, Bản cáo trạng số: 298/Ctr-VKS ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Thạch Ngọc C và bị cáo Dương Tấn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật;

Điều 173 Bộ luật Hình sự, T4 trộm cắp tài sản quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo Thạch Ngọc C có nhân thân xấu, năm 2018 đã bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản” và có 01 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngoài ra, trong vụ án này bị cáo Thạch Ngọc C là người khởi xướng và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại; bị cáo Dương Tấn H1 là người giúp sức cho bị cáo Thạch Ngọc C thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của từng bị cáo để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét: theo yêu cầu của các bị cáo, gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và các bị cáo là người dân tộc thiểu số là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo Dương Tấn H1 có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên, nên bị cáo đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý Trần Thị H2 bào chữa cho bị cáo Thạch Ngọc C đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra các bị hại đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo V25 màu vàng, Ram 8GB, dung lượng 128GB; 2.085.000 đồng là số tiền của bà Hồ Thị Thu T2 bị lấy trộm, Cơ quan điều tra thu được khi bắt các bị cáo; 01 túi xách bằng vải Jean màu xanh bên trong có lá cờ Việt Nam là tài sản của chị Hồ Thị Thu T2, Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho bà Hồ Thị Thu T2; 01 bóp da màu đen có chữ Gucci là tài sản của ông Lê Thanh T1 (chồng bà T2), Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho ông Lê Thanh T1; 01 xe máy Yamaha Sirius biển số 85B1-707.08 là xe của ông Vạn Sỹ T5 cho Dương Tấn H1 mượn để đi lại, không biết việc H1 dùng vào việc phạm tội. Cơ quan điều tra xử lý trả lại cho ông Vạn Sỹ T5 là phù hợp, nên không xem xét lại.

Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus thu giữ của Thạch Ngọc C và 01 điện thoại hiệu Oppo F11 thu giữ của Dương Tấn H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho hai bị cáo.

Án phí hình sự sơ thẩm Thạch Ngọc C thuộc diện hộ nghèo nên được miễn; Dương Tấn H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Thạch Ngọc C;

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Dương Tấn H1;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Thạch Ngọc Chương 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng 06 năm 2023.

Xử phạt: Dương Tấn H1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Trộm cắp tài sản”. Giao bị cáo Dương Tấn H1 về Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong giai đoạn thi hành án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. (bị cáo đã được giải thích về chế định án treo)

Về xử lý vật chứng:

Trả lại: 01 điện thoại hiệu Iphone 8 Plus cho bị cáo Thạch Ngọc C và 01 điện thoại hiệu Oppo F11 cho bị cáo Dương Tấn H1;

Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số: 243/QĐ-VKS-HS ngày 09/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh;

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Thạch Ngọc C được miễn; bị cáo Dương Tấn H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ