vanban.org

Bản án 30/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỷ hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-PT
Ngày: 25-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Vũ.

Các Thẩm phán:

1. Bà Phạm Thị Hồng Vân;

2. Ông Phạm Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Võ Chí B; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện DMC, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo: Võ Chí B, sinh năm 1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Trường S và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Nhân thân: Bản án số 38/2016/ HSST ngày 29-9-2016 của Tòa án nhân dân huyện DMC, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Võ Chí B 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17-3-2018 tại Trại giam C.

Bị hại: Ông Lâm Sơn N, sinh năm 1968; cư trú tại: Ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 03-12-2022, Ngô Thành T cùng với Võ Chí B và 03 người thanh niên (chưa xác định được họ tên, địa chỉ) đến nhà của anh Lâm Chí H, sinh năm 1999, ngụ ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh để tìm H đánh trả thù, do trước đây có xảy ra mâu thuẫn. Khi T và B đến nhà của H, thì nhà đã đóng cửa nên không gặp được. Lúc này, T và B mỗi người cầm 01 đoạn kim loại, dài khoảng 02 mét đập nhiều cái làm bể 01 cửa kính cường lực phía trước; 01 của kính cường lực phía sau và 04 cánh cửa kính cửa ra vào tiệm S1 "Mỹ M” của ông Lâm Sơn N là cha ruột của anh H làm chủ. Sau đó, T tiếp tục dùng chai thủy tinh bên trong có chứa xăng đốt cháy ném vào hai bên cửa ra vào làm cháy toàn bộ D dán tường hai bên tiệm Spa. Trong lúc xảy ra vụ việc, ông N và bà Lê Thị T1 (là cha mẹ ruột của H) ra can ngăn T và B không cho đập phá nhà cửa, nên T và B đi về; còn 03 đối tượng đi cùng T và B thì đứng trước nhà ông N nhìn và không tham gia đập phá nhà ông N. Khi B và T đi về đến cầu P thì ném 02 đoạn kim loại đã đập kính nhà ông N xuống kênh T. Sau khi xảy ra sự việc, ông N làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T và B, nhưng B đã bỏ trốn khỏi địa phương, nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D ra quyết định truy nã, đến ngày 17-8-2023 B ra đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG TS ngày 21-12-2022 đã kết luận:

- 01 (một) cửa kính cường lực, kích thước (3,2 x 2,65) m, mua vào tháng 11-2022 đã qua sử dụng, có giá trị 12.800.000 đồng

- 01 (một) cửa kính cường lực, kích thước (0,9 x2,65) m, mua vào tháng 11-2022 đã qua sử dụng, có giá trị 3.900.000 đồng.

- 04 (bốn) cửa kính, kích thước (0,5 x 1,9) m, mua vào năm 2000 đã qua sử dụng, có giá trị 200.000 đồng.

- 02 (hai) miếng Decal dán tường, kích thước (0,7 x 3,2) m, mua tháng 11-2022 đã qua sử dụng, có giá trị 2.800.000 đồng. Tổng trị giá của tài sản 19.700.000 đồng.

Vật chứng thu giữ và trách nhiệm dân sự đã xử lý xong khi xét xử bị cáo Ngô Thành T. Ông Lâm Sơn N đã nhận số tiền bồi thường 22.700.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo B tự nguyện trả lại số tiền 11.350.000 đồng cho Ngô Thành T khi có yêu cầu.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2024/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện DMC, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Võ Chí B phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt bị cáo Võ Chí B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Bản án sơ thẩm ghi nhận về xử lý vật chứng, về bồi thường thiệt hại đã xong; bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 23-02-2024, bị cáo Võ Chí B làm đơn kháng cáo xin giảm án và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Chí B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật và hợp pháp.

Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm xử phạt bị cáo Võ Chí B 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không nặng. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án hình sư sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận; không nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Chí B khai trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.

Bị cáo kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo Võ Chí B phù hợp với lời khai của bị cáo Ngô Thành T, lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản hiện trường và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 03-12-2022, tại khu vực ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo Ngô Thành T, Võ Chí B đã có hành vi dùng cây sắt đập phá làm bể 01 cửa kính cường lực, kích thước (3,2 x 2,65)m, trị giá 12.800.000 đồng; 01 cửa kính cường lực, kích thước (0,9 x 2,65)m, trị giá 3.900.000 đồng; 04 cửa kính, kích thước (0,5 x 1,9)m, trị giá 200.000 đồng và dùng chai thủy tinh bên trong có chứa xăng đốt cháy ném vào hai bên cửa ra vào làm cháy toàn bộ 02 miếng Decal dán tường, kích thước (0,7 x 3,2)m, trị giá 2.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 19.700.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản”. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo B và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Trong vụ án này, bị cáo là người khởi xướng rủ bị cáo Ngô Thành T và chuẩn bị hung khí đập phá tài sản của ông N. Sau khi gây án, bị cáo B bỏ trốn khỏi địa phương nên bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D ra quyết định truy nã, đến ngày 17-8-2023 bị cáo B ra đầu thú. Bị cáo biết hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng cố tình thực hiện, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, nên bị cáo phải chịu hậu quả do mình gây ra.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo thấy rằng: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt; điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm; cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm, khoản của điều luật trên là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra, nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên chấp nhận; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Chí B.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2024/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện DMC, tỉnh Tây Ninh.

1. Tuyên bố bị cáo Võ Chí B phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Chí B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Chí B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ