- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh Nhựt-Vũ Thúy Hằng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Minh Nhựt.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/01/2024 “ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Chi.
2. Ông Nguyễn Văn Năm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký TAND TP.Biên Hòa.
- Đại diện VKSND thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2629/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh Nhựt, sinh năm 1971.
Địa chỉ: 159 khu phố 2, phường Tân Mai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Vũ Thị Thúy Hằng, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 193/38C, khu phố 2, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
( Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Nhựt trình bày: Ông Nhựt và bà Hằng tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 1992, hôn nhân tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2000 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi nhau. Đỉnh điểm là năm 2022. Nhiều lần vợ chồng hàn gắn nhưng không được. Nay ông Nhựt xác định tình cảm không còn, không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân với nhau hơn 01 năm nay nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà Hằng.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh Tân, sinh năm 1993 và Nguyễn Tấn Đạt, sinh năm 2000. Các con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Ý kiến bị đơn bà Hằng:
Về quan hệ hôn nhân : Ông Nhựt yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tôi không đồng ý vì tôi là người theo đạo. Trong thời gian chung sống ông Nhựt có quan hệ với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Nếu Tòa án giải quyết thì cứ theo đơn khởi kiện của ông Nhựt.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh Tân, sinh năm 1993 và Nguyễn Tấn Đạt, sinh năm 2000. Các con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động đề nghị Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về thẩm quyền giải quyết vụ án và sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Vũ Thị Thúy Hằng cư trú tại phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, căn cứ Điều 28 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Hôn nhân giữa ông Nhựt và bà Hằng là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Nhựt có căn cứ.
- Về con chung: Các đương sự có 02 con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nhựt phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Vũ Thị Thúy Hằng cư trú tại phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, căn cứ Điều 28 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Các đương sự có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nhựt và bà Hằng chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn năm 1992 tại Ủy ban nhân dân phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của ông Nhựt thì vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, thường xuyên gây gỗ nhau. Tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông Nhựt và bà Hằng thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được, Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải hàn gắn đoàn tụ nhưng ông Nhựt cương quyết ly hôn không đồng ý đoàn tụ. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nhựt về việc ly hôn với bà Vũ Thị Thúy Hằng.
Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh Tân, sinh năm 1993 và Nguyễn Tấn Đạt, sinh năm 2000. Các con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Minh Nhựt phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên cần ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 207, Điều 271, Điều 273 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 9,10,11,12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Nguyễn Minh Nhựt. Ông Nguyễn Minh Nhựt được ly hôn với bà Vũ Thị Thúy Hằng.
2. Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Minh Tân, sinh năm 1993 và Nguyễn Tấn Đạt, sinh năm 2000. Các con chung đã trên 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Đương sự khai không nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5. Về án phí: Ông Nguyễn Minh Nhựt phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Nhựt đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa, biên lai số 0009588 ngày 09/11/2023. Ông Nhựt đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Các đương sự (2); - VKSND TP.Biên Hòa (2); - Chi cục THA dân sự TP.Biên Hòa (1); - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - UBND P.Tam Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai(1). - Lưu hồ sơ vụ án (1); - Lưu văn phòng (1). | Nguyễn Triều Châu |