- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Văn H, Nguyễn Thị Thanh H1"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Cẩm T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/01/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kiều Oanh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Hiền;
2. Bà Nguyễn Thị Nhàn;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh Phúc Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang: Ông Nguyễn Văn Quí – kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 323/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 327/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 , giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1999 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Võ Hồng D, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Trần Thị Cẩm T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, chị T trình bày:
Vào năm 2015, chị và anh D do tự nguyện quen biết, đến năm 2017 đã tổ chức lễ cưới và sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng T vào năm 2018, thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, chị mang thai năm 2018, đến đầu năm 2019 thì sanh con, cả hai chung sống bình thường đến khi con 01 tuổi thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh D cờ bạc dẫn đến nợ nần nhiều người chị khuyên nhiều lần không được, không có làm gì có tiền để lo cho vợ và con nên dẫn đến thường xuyên cự cãi, do nhiều lần cự cãi nên anh D cũng không quan tâm đến chị, chị bỏ nhà anh D đi về sống với cha mẹ ruột từ khi con đủ 1 tuổi đến nay con chung của anh chị đã tròn 5 tuổi, anh chị đã ly thân từ đó cho đến nay, ban đầu anh D còn lui tới thăm con, về sau thì không tới nữa, đến nay một mình chị nuôi con, anh D cũng không gửi tiền nuôi nuôi con, cũng không liên lạc hỏi thăm con cái, tình cảm với anh D không còn, nhận thấy cuộc hôn nhân này không đạt được mục đích và không thể kéo dài thêm được nữa, nay chị xin ly hôn với anh D.
Quá trình chung sống chị và anh D có 01 con chung tên Võ Trần Quốc B, sinh ngày 16/01/2019, đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng nên chị yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh D không có nợ chung.
Ngoài ra, không có trình bày thêm ý kiến gì khác.
* Bị đơn anh Võ Hồng D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công bố, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Cẩm T.
* Ý kiến của Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo các văn bản tố tụng, cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Trần Thị Cẩm T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Đây là “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” cần được xem xét, giải quyết theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tố tụng: Chị Trần Thị Cẩm T có đơn xin vắng mặt, anh Võ Hồng D được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa, nhưng anh D vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện cưới nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại Ủy ban nhân dân xã Đồng T, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, hôn nhân của chị T và anh D là hôn nhân hợp pháp. Theo đơn ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, chị T cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh D ham chơi cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, hiện nay chị T và anh D đã không còn chung sống với nhau. Anh D vắng mặt không đến Tòa án mặc dù Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án để hòa giải hay xin hàn gắn lại, chứng tỏ anh D cũng không quan tâm đến tình cảm vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, hôn nhân giữa chị T và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Có một con chung tên Võ Trần Quốc B, sinh ngày 16/01/2019. Thấy rằng, cháu B đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Bảo. Xét thấy, cháu B do chị T nuôi dưỡng đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí: Chị T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;
- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Cẩm T.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Cẩm T được ly hôn với anh Võ Hồng D.
2. Về con chung: Chị Trần Thị Cẩm T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Trần Quốc B, sinh ngày 16/01/2019.
Anh D được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Chị T cùng các thành viên trong gia đình không được ngăn cản anh D thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011691 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây nên chị T đã nộp xong án phí.
Anh D không phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh D được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - VKSND huyện G; - Chi cục THADS huyện G; - Các đương sự; - UBND xã Đ, huyện G; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thị Kiều Oanh |