- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hương- Ban"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày 18/9/2024 “V/v ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Ngọc Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức Liên; ông Nguyễn Xuân Tung
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên: bà Lê Thị Minh Hoa
- Kiểm sát viên, không tham gia phiên toà theo Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1994; nơi ĐKNKTT: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
* Bị đơn: Anh Bùi Trọng B, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị H trình bầy: Chị và anh Bùi Trọng B kết hôn với nhau vào ngày 18/12/2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm và xảy ra cãi vã, vợ chồng nhiều lần nói chuyện nhưng không hoà giải được; vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống cùng với anh B được nữa vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
Bị đơn anh Bùi Trọng B trình bày: Về điều kiện thủ tục kết hôn như chị H trình bày là đúng. Anh thừa nhận sau thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, đã ly thân một số lần, lần gần đây từ tháng 4/2024 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay nếu chị H đồng ý để anh nuôi hai con chung thì anh mới đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị H và anh B cùng trình bày vợ chồng có hai con chung là Bùi Thị Bảo A sinh ngày 04/3/2016 và Bùi Hữu P sinh ngày 12/5/2018; khi ly hôn chị H xin nuôi cháu A và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị trình bày hiện đang làm tự do thu nhập bình quân từ 6.000.000đ đén 7.000.000đ/tháng. Anh B xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung, anh trình bày hiện đang làm tự do thu nhập bình quân khoảng 10.000.000đ/tháng.
Con chung Bùi Thị Bảo A xin được ở với mẹ.
Về tài sản chung, công sức, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt chị Lê Thị H và anh Bùi Trọng B tuy nhiên đây là lần thứ hai anh B vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; HĐXX căn cứ điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Bùi Trọng B kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày 18/12/2015 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.
Sau thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày, vợ chồng ly thân một số lần, lần gần đây từ tháng 4/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng không có kết quả;
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng tồn tại trong một thời gian mà không được cải thiện, sau khi thụ lý Toà án đã tổ chức hoà giải nhưng không được; nay chị H xin ly hôn thì anh B chỉ đồng ý ly hôn khi anh được nuôi cả hai con chung; nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài vì vậy cần xử ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Bùi Trọng B là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Bùi Thị Bảo A sinh ngày 04/3/2016 và Bùi Hữu P sinh ngày 12/5/2018. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của đương sự, tham khảo nguyện vọng của con chung, để đảm bảo quyền và điều kiện nuôi con cần giao chị H nuôi cháu Bùi Thị Bảo A và giao anh B nuôi cháu Bùi Hữu P cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được; chị H, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
1. Xử ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Bùi Trọng B
2. Về con chung: giao chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Thị Bảo A sinh ngày 04/3/2016 và giao anh Bùi Trọng B trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Hữu P sinh ngày 12/5/2018 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Chị H, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị H, anh B được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị H, anh B và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B, chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải chịu số tiền 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp theo biên lai số 0001159 ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.
Án xử công khai sơ thẩm; chị Lê Thị H, anh Bùi Trọng B vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam. - VKSND Duy Tiên. - Chi cục THADS Duy Tiên. - UBND phường Châu Giang; - Các đương sự. - Lưu Hồ sơ. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị xử ly hôn giữa chị Lê Thị H và anh Bùi Trọng B. Về con chung: giao chị H nuôi con chung Bùi Thị Bảo A, giao anh B nuôi con chung Bùi Hữu P; chị H, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công sức, công nợ: không đặt ra giải quyết; về án phí chị H phải chịu án phí theo quy định. TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi...... giờ.......phút, ngày 25 tháng 8 năm 2023 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc T. Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn H1; bà Lê Thị H2 tháng 7 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” giữa: A, đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt. tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ: - Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự. - Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; - Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. 1. Xử ly hôn giữa chị Đặng Bích H3 và anh Nguyễn Văn T1 Nguyễn Thảo C sinh ngày 05/7/2012 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. quy định của pháp luật. Chị H3 và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. ứng án phí 300.000đ chị H3 đã nộp theo biên lai số 0001969 ngày 10/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án. mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ TRẦN NGỌC THUẬN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 56/2023/TLST–HNGĐ ngày 10 * Nguyên đơn: Chị Đặng Bích H3, sinh năm 1986; nơi cư trú: số E, ngõ * Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố D, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh 2. Về con chung: giao chị Đặng Bích H3 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chị H3, anh T1 được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo 3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H3 phải chịu số tiền 300.000đ. Số tiền tạm Án xử công khai sơ thẩm; chị Đặng Bích H3, anh Nguyễn Văn T1 vắng |