vanban.org

Bản án 30/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Cho chị Hạng Thị V được ly hôn với anh Hờ A C.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Váng và giao 03 con chung là Hờ A Chừ, sinh ngày 11/10/2009, Hờ A Minh, sinh ngày 11/02/2011 và Hờ Thị Bào, sinh ngày 08/7/2013 cho chị Váng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Chấp nhận yêu cầu của chị Váng về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VANG - CHUA"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Cho chị Hạng Thị V được ly hôn với anh Hờ A C.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ B
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

___________
Bản án số: 30/2024/HNGĐ - ST.
Ngày: 17/4/2024.
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B – TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quàng Văn Minh;

2. Ông Lò Văn Sung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên .

Ngày 17/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2023/TLST – HNGĐ ngày 20/11/2023 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXX

- ST ngày 04/3/2024; theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST - HPT, ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hạng Thị V – Sinh năm 1994 "có mặt".

Nơi ĐKHKTT: Bản N T 1, xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản P L A, xã P N, huyện Đ B Đông, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Anh Hờ A C, sinh năm 1986 “vắng mặt”. NĐKHKTT: Bản N T 1, xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Hiện nay: Đang chấp hành án tại đội 14, phân trại số 01, trại giam Nà Tấu, Cục C10, Bộ Công an.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 18/11/2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Đ B, chị Hạng Thị V (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và anh Chua sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, nhưng đến ngày 26/6/2014 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Đến ngày 05/02/2016 thì chồng tôi vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù. Hiện nay đang chấp hành án tại đội 14, phân trại số 01, trại giam Nà Tấu, Cục C10, Bộ Công an.

Tôi một mình chăm sóc ba đứa con ăn học rất vất vả cho tôi và anh Chua phải chấp hành án quá lâu, nên tôi không thể đợi được anh Chua về, nên tôi viết đơn này đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Chua.

2. Về con chung: Chị Váng khai vợ chồng có 03 con chung là: Hờ A Chừ, sinh ngày 11/10/2009, Hờ A Minh, sinh ngày 11/02/2011 và Hờ Thị Bào, sinh ngày 08/7/2013.

Chị Váng có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi cả ba con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của các con đều có chung nguyện vọng muốn được sống ở cùng với bố. Nhưng do hiện nay bố đang phải chấp hành án phạt tù nên trước mắt các con sẽ ở cùng với mẹ, khi nào bố chấp hành án xong thì sẽ về ở cùng với bố.

3.Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị ngày 30/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án anh Hờ A C (bị đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và cô Váng lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Tôi đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án số 55/TB-TLVA, ngày 20/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ B. Vợ tôi khởi kiện xin ly hôn với tôi, tôi không đồng ý ly hôn vì tôi vẫn còn tình cảm với vợ.

2. Về con chung: Anh Chua có ý kiến là hiện nay đang phải chấp hành án nên đồng ý cho các con theo mẹ. Nếu cô Váng đi lấy chồng thì phải giao lại các con cho anh em tôi nuôi.

Về tài sản: Tài sản riêng, nợ phải trả, nợ lấy về, diện tích ruộng nương, tài sản chung: Hai vợ chồng có nợ bà Lầu Thị Dung (mẹ anh Chua) 40 triệu đồng để tổ chức đám cưới và cho đến nay chưa trả được cho bà Dung, nên tôi yêu cầu cô Váng phải hoàn trả cho mẹ tôi một nửa là 20 triệu đồng, còn tôi sẽ có trách nhiệm trả cho mẹ tôi 20 triệu đồng.

Tại đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân xác nhận của UBND xã H T, huyện Đ B đã xác định: Sau khi anh, chị lấy nhau năm 2009 nhưng không đăng ký kết hôn, đến ngày 26/6/2014 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên. Vợ chồng sống chung hạnh phúc và đến ngày 05/02/2016 thì anh Chua vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù. Hiện nay đang chấp hành án tại đội 14, phân trại số 01, trại giam Nà Tấu, Cục C10, Bộ Công an.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là: Hờ A Chừ, sinh ngày 11/10/2009, Hờ A Minh, sinh ngày 11/02/2011 và Hờ Thị Bào, sinh ngày 08/7/2013.

Án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Váng phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Váng đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0000153 ngày 20/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật:

Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn chị Hạng Thị V, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Váng xin ly hôn với anh Chua, anh Chua có hộ khẩu thường trú tại xã H T, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ B theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39/BLTTDS.

. Về điều luật áp dụng: Chị Váng và anh Chua kết hôn năm 2014, đến năm 2023 thì chị Váng khởi kiện xin ly hôn, nên Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hạng Thị V và anh Hờ A C lấy nhau có đăng ký kết hôn. Do vậy, hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Do anh Chua vi phạm pháp luật và đang chấp hành án phạt tù là 20 năm nên chị Váng không đợi được và chị Váng xác định tình cảm của mình đối với anh Chua không còn nữa. Quá trình giải quyết vụ án chị Váng vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chua. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền lợi của đương sự và để giải phóng cho chị Váng khỏi tình trạng hiện tại khi mà hôn nhân không thể đem lại hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Váng và áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Hạng Thị V và anh Hờ A C.

. Về con chung: Hai vợ chồng có 03 con chung là: Hờ A Chừ, sinh ngày 11/10/2009, Hờ A Minh, sinh ngày 11/02/2011 và Hờ Thị Bào, sinh ngày 08/7/2013.

Chị Váng có nguyện vọng là muốn được trực tiếp nuôi cả ba con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của ba cháu đều có chung nguyện vọng muốn được sống ở cùng với bố. Nhưng do hiện nay bố đang phải chấp hành án phạt tù nên trước mắt các con sẽ ở cùng với mẹ, khi nào bố chấp hành án xong thì sẽ về ở cùng với bố.

Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh Chua đang phải chấp hành án nên không thể giao con cho anh Chua nuôi được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu và nguyện vọng của chị Váng và giao 03 con chung cho chị Váng trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Váng không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về tài sản: [6.1]. Tài sản riêng, nợ lấy về: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6.2]. Tài sản chung, diện tích ruộng, nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6.3]. Nợ phải trả: Anh Chua khai vợ chồng còn nợ bà Dung 40 triệu nhưng anh Chua không cung cấp được chứng cứ, chị Dung không công nhận là có khoản nợ trên, nên HĐXX không có căn cứ để giải quyết.

. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Do chị Váng không có đơn xin miễn án phí, nên chị Váng phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Váng đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0000153 ngày 20/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B.

. Đối với việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Sau khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, vì lý do đang phải chấp hành án trại giam Nà Tấu, Cục C10, Bộ Công an, không có điều kiện tham gia phiên tòa. Do bị đơn không làm đơn xin xét xử vắng mặt, nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã gửi quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho các đương sự, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ Khoản 3 Điều 228/BLTTDS, Điểm b Khoản 2 Điều 227/BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 235, Điều 264 và Điều 267/BLTTDS; Áp dụng: Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

1. Tuyên xử: Cho chị Hạng Thị V được ly hôn với anh Hờ A C.

2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Váng và giao 03 con chung là Hờ A Chừ, sinh ngày 11/10/2009, Hờ A Minh, sinh ngày 11/02/2011 và Hờ Thị Bào, sinh ngày 08/7/2013 cho chị Váng trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Chấp nhận yêu cầu của chị Váng về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về Tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Váng phải chịu 300.000đ án phí Dân sự sơ thẩm. Chị Váng đã nộp 300.000đ theo biên lai số: 0000153 ngày 20/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B, chị Váng đã nộp đủ tiền án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Khoản 1 Điều 273/BLTTDS; Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ