vanban.org

Bản án 30/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 29/03/2024 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về con chung: Giao hai con chung Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013 cho anh Trần Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh Trần Văn V chưa về Việt Nam bà Phạm Thị D tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng 2 cháu cho đến khi anh V về Việt Nam. Chị Phạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-3-2024
“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia
đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng; ông Nguyễn Thái Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 151/2023/TLST - HNGĐ, ngày 08 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định lại thời gian xét xử số 01/2024/QĐ-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

2. Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1985; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang sinhh sống và lao động tại Hợp chung quốc Hoa Kỳ. Vắng mặt

3. Người tham gia tố tụng khác: Bà Phạm Thị D (mẹ đẻ anh Trần Văn V); địa chỉ: Thôn Hoa Thành, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết, chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V trình bày thống nhất như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 03/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau cho đến năm 2015. Năm 2016, anh V đi lao động tại nước ngoài sau đó có về Việt Nam được một thời gian đến năm 2019 thì lại tiếp tục đi nước ngoài cho đến nay chưa về Việt Nam. Năm 2022 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng sống xa nhau, không có thời gian bên nhau để chia sẻ với nhau và bất đồng trong việc làm ăn kinh tế, chăm sóc con cái nên dần dần mất tình cảm.

Nay, chị D và anh V đều nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị D và anh V đều thống nhất ly hôn.

Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V có 02 con chung là Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013. Chị D và anh V thống nhất giao hai con chung cho anh V trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng và chị D không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên hiện nay anh V đang lao động ở nước ngoài nên nhờ bà Phạm Thị D (mẹ đẻ anh Trần Văn V) chăm sóc và nuôi dưỡng con chung cho đến khi anh V về Việt Nam.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Trần Văn V cho biết hiện nay anh đang lao động tự do tại Hoa Kỳ nên không thể cung cấp được địa chỉ cụ thể của mình cũng như do công việc không thể trực tiếp về Việt Nam để giải quyết vụ án nên đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Phạm Thị D (mẹ đẻ anh Trần Văn V); địa chỉ: Thôn Hoa Thành, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.

- Người tham gia tố tụng khác bà Phạm Thị D (mẹ đẻ anh Trần Văn V) trình bày: Hiện nay anh Trần Văn V con trai bà đang lao động ở nước ngoài chưa về Việt Nam nên bà tự nguyện xin được chăm sóc và nuôi dưỡng hai con chung của chị D và anh V là Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013 cho đến khi anh V về Việt Nam. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh V, bà cam đoan sẽ thông báo cho anh V được biết đầy đủ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, xử:

- Về tình cảm: Xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Văn V.

- Về con chung: Giao hai con chung Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013 cho chị anh Trần Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh Trần Văn V chưa về Việt Nam bà Phạm Thị D tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng 2 cháu cho đến khi anh V về Việt Nam. Chị Phạm Thị D không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng:

Anh Trần Văn V hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Hoa Kỳ không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 31392/QLXNC-P3, ngày 22/11/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Anh Trần Văn V, sinh ngày 03/3/1985 đã xuất cảnh gần nhất vào ngày 12/11/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn V trình bày vì điều kiện công việc không thể trực tiếp về Việt Nam để giải quyết vụ án và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, anh V ủy quyền giao nhận tài liệu, chứng cứ của Tòa án cho Phạm Thị D (mẹ đẻ anh Trần Văn V); địa chỉ: Thôn Hoa Thành, xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh.

Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn V theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 03/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng mỗi người một nơi, thiếu sự chia sẻ cùng nhau và do bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, dẫn đến không còn tình cảm với nhau.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng cuộc hôn nhân của chị D và anh V không đạt được. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị D xử cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Trần Văn V.

Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Phạm Thị D và anh Trần Văn V có 02 con chung là Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù anh Trần Văn V hiện nay đang lao động ở nước ngoài không thể trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với con chung, tuy nhiên anh V và chị D đã tự thỏa thuận với nhau về việc giao hai con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, bà Phạm Thị D (mẹ đẻ anh V) xin tự nguyện chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu thay anh V cho đến khi anh V về Việt Nam. Xét thấy, việc thỏa thuận của chị D và anh V là tự nguyện không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận yêu cầu của chị D cũng như nguyện vọng của anh V.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Trần Văn V.

2. Về con chung: Giao hai con chung Trần Phúc N, sinh ngày 06/11/2011 và Trần Phạm Thảo V, sinh ngày 08/11/2013 cho anh Trần Văn V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, trong thời gian anh Trần Văn V chưa về Việt Nam bà Phạm Thị D tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng 2 cháu cho đến khi anh V về Việt Nam. Chị Phạm Thị D không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị D tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000706 ngày 07/11/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ